vanban.org

Bản án 05/2025/HC-PT — Hành chính

Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/07/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo UBND huyện C (nay là đặc khu C); Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HC-ST ngày 07/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A, về việc: Hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H đã được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Bà Đặng Dương A kiện UBND huyện C (nay là đặc khu C)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo UBND huyện C (nay là đặc khu C); Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HC-ST ngày 07/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).
  • Căn cứ chính? Điều 241 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TÒA PHÚC THẨM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2025/HC-PT
Ngày 31- 7- 2025
V/v “Khiếu kiện quyết định hành chính về
thu hồi đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Trinh

Các Thẩm phán:

Bà Huỳnh Thanh Duyên

Ông Nguyễn Văn Tửu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 312/2025/TLPT-HC ngày 16/4/202 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về thu hồi đất”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HCST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 12/2025/QĐ-PT ngày 15/7/2025, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Bà Đặng Dương A, sinh năm 1968; Địa chỉ: Số I B, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nay là Số I B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

Người đại diện ủy quyền của người khởi kiện: Ông Đặng Văn S, sinh năm 1963; Địa chỉ: Khu E, đặc khu C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người bị kiện: Ủy ban nhân dân (UBND) huyện C (nay là UBND đặc khu C, Thành phố Hồ Chí Minh); Địa chỉ: Số B T, huyện C tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nay là số 28 T, đặc đặc khu C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của người bị kiện: Ông Phan Trọng H – Chủ tịch UBND đặc khu C (Xin xét xử vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Văn M1 – Phó trưởng Phòng K; Địa chỉ: Số B T, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nay là số 28 T, đặc đặc khu C, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).

- Người kháng cáo: Người bị kiện UBND huyện C (nay là đặc khu C).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện trình bày:

Năm 1999, gia đình bà Đặng Dương A được UBND cho thuê một khu đất tại đường N làm nhà xưởng. Năm 2002, do xây dựng nhà nghỉ Công Đoàn UBND huyện vận động gia đình bà A di dời xuống H, Khu dân cư S. Tại đây, UBND huyện cho bà A thuê 1.200m² xây dựng nhà xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng. Khi thuê khu đất là đồi cây cối mọc um tùm, thuộc đất rừng phòng hộ. UBND huyện yêu cầu phải bồi thường cây cối cho Vườn Quốc gia C. Sau khi bồi thường cho Vườn Quốc Gia Côn Đ, bà A phải chi phí thuê san lấp mặt bằng, bà A yêu cầu được thuê đất dài hạn theo luật đất đai. Tuy nhiên, UBND huyện chỉ ký hợp đồng 5 năm và cho phép gia hạn thêm. Sau 5 năm bà A được gia hạn thêm đến năm 2012. Năm 2013 bà A tiếp tục xin gia hạn, nhưng UBND huyện không trả lời. Sau thời gian không được trả lời, ngày 08/8/2018 bà A tiếp tục làm đơn xin gia hạn. Tuy nhiên, đến ngày 27/5/2019 UBND huyện mới ban hành văn bản trả lời không cho bà A gia hạn thuê đất và ngày 15/8/2019 UBND huyện ban hành Quyết định 934/QĐ-UBND thu hồi toàn bộ đất bà A đang thuê. Khi ban hành văn bản và quyết định thu hồi đất UBND huyện không gửi cho bà A.

Đến ngày 06/11/2019 Phòng TN&MT huyện mời bà A lên và giao thông báo và quyết định thu hồi đất cho bà A. Tại buổi làm việc với Phòng TN&MT huyện K (nay là đặc khu C), bà A không đồng ý với Công văn 1555/UBND-TNMT và Quyết định thu hồi đất và yêu cầu tiếp tục được thuê đất. Tại buổi làm việc ngày 06/11/2019 Đại diện Phòng TN&MT hứa sẽ báo cáo Ủy ban huyện C (nay là đặc khu C) giải quyết nguyện vọng của bà A và thông báo cho bà A biết kết quả. Tuy nhiên, đến ngày 05/5/2021 UBND huyện mời bà A ra làm việc và thông báo không cho gia hạn thêm, nên ngày 15/5/2021 bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C) và buộc U thời hạn sử dụng đất cho bà A theo hợp đồng thuê năm 2002 với lý do:

Thứ nhất, về gia hạn thuê đất: Sau khi hết hạn gia hạn đợt 2 năm 2012 bà A đã liên hệ với Phòng TN&MT để gia hạn tiếp. Tuy nhiên, khi nhận đơn cán bộ Phòng TN&MT ông Phan Anh T hướng dẫn bà A làm ủy quyền cho bà Đặng Thị H1 làm thủ tục gia hạn (anh T hướng dẫn trực tiếp vào đơn).

Ngày 03/6/2013, tại Phòng tư pháp huyện Côn ĐảK (nay là đặc khu C), bà A đã ủy quyền cho bà H1 làm thủ tục xin gia hạn thuê đất. Sau khi nhận ủy quyền, ngày 05/5/2014 bà Đặng Thị H1 làm đơn xin gia hạn thuê đất cho bà A. Tuy nhiên, sau khi nhận đơn ông Tài cán bộ P TN&MT không ghi biên nhận mà chỉ giải thích do chưa có quy hoạch nên phải chờ quy hoạch mới gia hạn được, nhưng sau đó không trả lời (do ông T chuyển công tác). Đợi lâu không thấy UBND huyện trả lời, đến năm 2018 bà A tiếp tục làm đơn xin gia hạn.

Thứ hai, về kê khai nộp thuế: Năm 2008, 2009 bà A đã nộp thừa 3.693.600đ, các năm sau 2010, 2011, 2012 cơ quan thuế tự động trừ số tiền mà bà A đã nộp thừa từ các năm trước. Đến năm 2012 UBND huyện chỉ đạo Cơ quan Thuế không thu nên cơ quan T1 không trừ số tiền thừa của bà A. Cho đến nay số tiền nộp thuế của bà A vẫn còn thừa tại cơ quan Thuế 3.203.055đ. UBND huyện cho rằng bà A không nộp thuế là không đúng.

Thứ ba, về việc sử dụng đất và chuyển về Vũng Tàu sinh sống: Năm 2009 vì lý do hoàn cảnh gia đình, bà A phải về Vũng Tàu để chăm mẹ già. Tuy nhiên, các năm sau đó công việc kinh doanh tại C của bà A vẫn bình thường. Do sau này hoạt động sản xuất đồ mộc không hiệu quả nên năm 2017 bà A liên kết với Công ty N làm thử sản xuất gạch không nung. Tuy nhiên, năm 2019 UBND huyện C (nay là đặc khu C) gây khó khăn, nên việc liên kết sản xuất gạch không nung với Công ty N không hiệu quả phải ngừng sản xuất cho đến nay.

Thứ tư, việc sửa chữa nhà xưởng: Do nhà xưởng xây dựng đã lâu xuống cấp, để bảo đảm an toàn lao động, tránh gây thiệt hại người và tài sản nên năm 2018, bà A phải sửa chữa lại toàn bộ nhà xưởng theo giấy phép xây dựng ban đầu và phù hợp với việc sản xuất gạch không nung.

Thứ năm, về quy hoạch: Năm 2002, bà A bị di dời nhà xưởng để nhường chỗ xây dựng khách sạn Công Đoàn, U, cho thuê vị trí khu đất này và yêu cầu bà A phải bồi thường cho Vườn Quốc gia C (đất thuộc rừng phong hộ) sau đó mới được san lấp mặt bằng và xây nhà xưởng theo đúng quy hoạch của địa phương. Nay Nhà nước quy hoạch lại khu vực này là đất thương mại, dịch vụ (xây dựng khách sạn) thì Cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm hướng dẫn cho bà A sử dụng đất kinh doanh theo đúng quy hoạch mới. Nếu bà A không sử dụng đúng quy hoạch mới, thì mới gọi là sử dụng đất không đúng quy hoạch. Trong khi UBND huyện chỉ căn cứ vào quy hoạch mới để không gia hạn thời gian sử dụng đất cho bà A .

Căn cứ khoản 3 Điều 126 Luật đất đai:

“3.Thời hạn giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ, làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp ... được xem xét, quyết định trên cơ sở dự án đầu tư hoạc đơn xin giao đất, thuê đất nhưng không quá 50 năm.

Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng nhưng không quá thời hạn sử dụng quy định tại khoản này”.

Bà A xin thuê đất sử dụng vào mục đích làm cơ sở sản xuất phi nông nghiệp với thời hạn là 50 năm. Tuy nhiên, UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho thuê 5 năm. Trong suốt quá trình thuê đất, bà A không vi phạm hợp đồng, không vi phạm luật đất đất đai. Khi hết thời hạn bà A tiếp tục có nhu cầu sử dụng UBND huyện C (nay là đặc khu C) không cho gia hạn là không đúng quy định tại khoản 3 Điều 126 Luật đất đai. UBND huyện C (nay là đặc khu C) đưa ra các lý do trên để không cho bà A gia hạn là không đúng quy định của pháp luật.

Về Quyết định thu hồi đất: Việc UBND huyện C (nay là đặc khu C) căn cứ điểm d khoản 1 Điều 65 Luật đất đai: “Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn” thu hồi đất của bà A, trong khi bà A vẫn có nhu cầu sử dụng là không đúng quy định của pháp luật. Khoản 3 Điều 126 Luật đất đai quy định: “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng...”. Việc gia hạn, thời gian sử dụng đất là do UBND huyện không gia hạn cho bà A. Lỗi không gia hạn do UBND huyện C (nay là đặc khu C) không phải do bà A.

Năm 2002, cùng với trường hợp của bà A. Khu bãi chứa vật liệu xây dựng của ông Nguyễn Chí Đ1, nhà máy N1 của ông Phạm Văn S1, nhà máy nước đá của bà Nguyễn Thị Y vợ ông Võ Thái H2 cũng bị di dời lên khu đất dọc theo H II như trường hợp của bà A nhưng đều được thuê 50 năm và đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những nội dung trên, bà A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Tuyên hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại hương lộ II đã được UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) tiếp tục gia hạn cho bà Đặng Dương A thuê đất theo quy định của Luật đất đai.

Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện trình bày:

UBND huyện C (nay là đặc khu C) đã có ý kiến đối với yêu cầu của người khởi kiện tại Văn bản số 2997/UBND-TNMT ngày 31/8/2021 đã gửi cho Tòa án tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND huyện C (nay là đặc khu Côn Đảo) vẫn giữ nguyên toàn bộ nội dung này.

- Hồ sơ cho thuê đất:

Xét nhu cầu xin thuê đất của bà Đặng Dương A tại đơn xin thuê đất ngày 02/5/2002; đề nghị của Phòng Kinh tế tại Tờ trình số 134/TTr-KT ngày 03/6/2002; Ngày 06/6/2002, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 221/QĐ.UB về việc thu hồi 1.000m² đất tại đường H, huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê toàn bộ diện tích đất trên để đầu tư xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng (thời hạn thuê 5 năm).

Ngày 14/8/2002, bà Đặng Dương A tiếp tục có đơn xin thuê thêm 200m² đất; Phòng Kinh tế có Tờ trình số 240/TTr-KT ngày 29/8/2002; Ngày 30/8/2002, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 372/QĐ.UB về việc thu hồi 200m² đất tại đường H, huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê toàn bộ diện tích đất trên (bổ sung) để đầu tư xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng (thời hạn thuê 5 năm). Theo đó, tổng diện tích đất mà bà Đặng Thị Dương A được UBND huyện cho thuê là 1.200m² trong thời hạn 05 năm theo Quyết định số 221/QĐ.UB và Quyết định số 372/QĐ.UB.

Đồng thời, trên cơ sở Quyết định cho thuê đất của UBND huyện, Phòng Kinh tế đã thay mặt UBND huyện C (nay là đặc khu C) ký kết hợp đồng thuê đất số 02 HĐ/TĐ ngày 22/10/2002 với bà Đặng Dương A đối với diện tích 1.200m² nêu trên theo phương thức nộp tiền thuê đất: hàng năm; Trong đó quy định một số nội dung như sau: tại khoản 1, 4 điều 4 hợp đồng có nêu:

“1. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bên B (bà Đặng Dương A) không được chuyển quyền sử dụng đất thuê nếu không đủ các điều kiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai. Trong thời gian thực hiện hợp đồng, bên A (UBND huyện C (nay là đặc khu C)) đảm bảo quyền sử dụng đất của bên B, không chuyển giao quyền sử dụng khu đất trên cho các tổ chức, cá nhân khác khi chưa được bên B thỏa thuận....

4. Hợp đồng thuê đất chất dứt trong các trường hợp sau: a. Hết thời hạn thuê đất mà không được gia hạn thuê tiếp; b. Do đề nghị của một bên hoặc các bên và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất đó chấp thuận; c. Bên B bị phá sản hoặc bị phát mại tài sản hoặc giải thể; d. Bên B bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất do vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai”.

Ngày 24/12/2002, UBND huyện C (nay là đặc khu C) cấp phép xây dựng số 39/GPXD cho bà Đặng Dương A gồm: Nhà xưởng + Khu nghỉ công nhân là 250m², nhà vệ sinh là 10m², nhà bếp 12m², độ cao nền +150 so với mặt đường.

[Gia hạn lần 1] Ngày 16/01/2008, bà Đặng Dương A có đơn xin gia hạn thời hạn thuê đất gửi UBND huyện C (nay là đặc khu Côn Đảo); Ngày 29/2/2008, Phòng T2 có văn bản số 158/TNMT tham mưu U thuê đất cho bà Đặng Dương A; Ngày 24/3/2008, UBND huyện ban hành Quyết định số 135/QĐ-UBND về việc cho phép bà Đặng Thị Dương A – khu dân cư S, huyện C (nay là đặc khu C) được gia hạn sử dụng đất đến ngày 06/6/2012 đối với phần diện tích 1.200m² tại khu vực H, huyện C (nay là đặc khu C).

[Hết thời hạn] Đến ngày 06/6/2012, thời hạn thuê đất của bà Đặng Dương A đã chấm dứt, bà A không nộp hồ sơ xin gia hạn. Đồng thời, bà Đặng Dương A cũng không còn cư trú tại huyện C (nay là đặc khu C) và cũng không sử dụng đất, bỏ đất trống từ năm 2012 cho đến khoảng năm 2016. Sau đó, đến tháng 02/2017 bà A giao lại cho đơn vị thứ 3 là Công ty N tiếp nhận sử dụng và có xây dựng thêm một số công trình thì bị cơ quan chức năng kiểm tra, lập biên bản. Tại buổi kiểm tra, Công ty N không cung cấp được giấy tờ liên quan đến việc sử dụng và xây dựng công trình trên đất (hồ sơ thuê đất hết hạn - không có giá trị pháp lý).

[Xin gia hạn] Ngày 08/8/2018, bà Đặng Dương A có đơn xin gia hạn sử dụng đất đối với phần diện tích 1.200m² nêu trên. Theo đó, Phòng T2 tiến hành kiểm tra hiện trạng đối với thửa đất mà bà Đặng Thị Dương A xin gia hạn (Biên bản số 574/BB-TNMT ngày 28/9/2018): Kết quả ghi nhận đang xây dựng, cải tạo một phần công trình nhà cấp 4 và nhà kho có diện tích lần lượt là 4,5m x 16,5m; 13,6m x 12m. Toàn bộ tài sản trên đất mới được tạo lập là của Công ty cổ phần N vào khoảng năm 2017 do có thỏa thuận hợp tác kinh doanh với bà Đặng Dương A. Như vậy, tại thời điểm năm 2018, hộ gia đình bà Đặng Dương A cũng không trực tiếp sử dụng phần đất nói trên.

- Về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với phần đất thuê:

Ngày 06/8/2021, Chi cục Thuế khu vực V - Côn Đảo có văn bản số 6202/CCTKV-TrB về việc cung cấp thông tin giải quyết khiếu kiện liên quan đến việc nộp tiền thuê đất của bà Đặng Dương A. Sau khi hết thời hạn thuê đất (06/6/2012), cơ quan thuế đã ngừng lập bộ tiền thuê đất đối với bà Đặng Dương A. Đồng thời, bà Đặng Dương A không tiếp tục nộp tiền thuê đất cho diện tích 1.200m² đất thuê nêu trên kể từ sau ngày 06/12/2012 cho đến nay. Số tiền thuê đất mà bà Đặng Dương A nộp thừa được theo dõi cho đến này là 3.203.055 đồng.

- Quá trình ban hành Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H:

Trong quá trình rà soát các trường hợp hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước cho thuê đất trên địa bàn huyện và đề xuất hướng xử lý các trường hợp đã hết hạn thuê đất, trong đó có trường hợp của bà Đặng Dương A.

Sau khi được UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho phép gia hạn thời gian sử dụng 1.200m² đất tại H II tại Quyết định số 135/QĐ-UBND ngày 24/3/2008 đến ngày 06/6/2012; Khi hết thời hạn thuê đất, bà A không nộp hồ sơ xin gia hạn thời gian sử dụng đất, không nộp tiền sử dụng đất (khai thuế) nên thời hạn sử dụng đất của bà Đặng Dương A đã chấm dứt theo khoản 3, điều 126, Luật đất đai năm 2013 cụ thể: “Khi hết thời hạn, người sử dụng đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng thì được Nhà nước xem xét gia hạn sử dụng đất nhưng không quá thời hạn quy định tại khoản này”.

Đến ngày 08/8/2018, bà Đặng Dương A có đơn xin gia hạn sử dụng đất đối với phần diện tích 1.200m². Ngày 28/9/2018, Phòng T2 lập biên bản 574/BB-TNMT kiểm tra việc xây dựng của hộ ông Đặng Văn S (chồng bà A), trong đó ghi nhận: Phần diện tích nhà cấp 4, nâng tường gạch mới trên phần tường hiện hữu, đang tiến hành tô mặt ngoài (diện tích 4,5m x 16,5m), mái lợp tôn; Phần nhà kho đang tiến hành lợp tôn trên mái kết cấu khung cột xà gồ, mái tôn (13,6m x 12m). Đồng thời yêu cầu ông Đặng Văn S - do bà H1 làm đại diện ngưng ngay việc thi công xây dựng công trình đến khi có đầy đủ các giấy tờ có liên quan theo luật định.

Ngày 27/5/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Công văn số 1555/UBND-TNMT về việc trả lời đơn xin gia hạn sử dụng đất của bà Đặng Dương A. Theo đó, UBND huyện C (nay là đặc khu C) không đồng ý cho phép bà Đặng Dương A được tiếp tục thuê phần diện tích nói trên;

Lý do: Thực tế, bà A không trực tiếp sử dụng đất (bỏ trống, không sử dụng), có hành vi sử dụng đất không đúng mục đích được cơ quan có thẩm quyền phép (theo giấy phép số 39/GPXD ngày 24/12/2002 xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng) và đến nay không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất; Cụ thể:

Qua đối chiếu quy hoạch sử dụng đất: đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) của huyện C (nay là đặc khu C) đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 587/QĐ-UBND ngày 20/3/2014 thì vị trí đất xin gia hạn thuê đất của bà A được quy hoạch là đất thương mại dịch vụ;

Đối chiếu quy hoạch xây dựng: Bản đồ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 khu trung tâm Côn Sơn huyện C (nay là đặc khu C) được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1010/QĐ-UBND ngày 28/4/2016, vị trí đất xin gian hạn thời gian thuê đất của bà Đặng Dương A được quy hoạch là đất xây dựng khách sạn.

Như vậy, việc tiếp tục sử dụng đất thuê của bà A cho mục đích xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng, sản xuất gạch không còn phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng. Vì vậy, UBND huyện C (nay là đặc khu C) đề nghị bà Đặng Dương A chuẩn bị đất sạch để bàn giao cho UBND huyện quản lý sau khi UBND huyện ban hành Quyết định thu hồi.

Ngày 24/6/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành thông báo số 236/TB- UBND về việc hướng dẫn hộ dân di dời tài sản, chuẩn bị quỹ đất sạch để bàn giao cho UBND huyện C (nay là đặc khu C) quản lý;

Ngày 05/8/2019, Phòng T2 ban hành Văn bản số 780/TNMT báo cáo rà soát hồ sơ thuê đất trên địa bàn huyện C (nay là đặc khu Côn Đảo); trong đó có trường hợp bà Đặng Dương A cụ thể như sau: UBND huyện không xem xét gia hạn quyền sử dụng đất thuê của bà và yêu cầu bà chuẩn bị đất sạch để bàn giao cho UBND huyện quản lý;

Ngày 05/5/2021, bà Đặng Dương A có liên hệ làm việc với Phòng T2 để làm việc liên quan đến nội dung thu hồi 1.200m² đất theo Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C). Theo đó, bà Đặng Dương A cho rằng mình có nộp đơn xin gia hạn thuê đất (các năm 2012, 2013 và 2015).

Tuy nhiên, qua rà soát, kiểm tra hồ sơ lưu trữ, UBND huyện xác định chưa nhận bất kỳ đơn xin nào gia hạn thuê 1.200m² đất nào của bà Đặng Dương A từ năm 2012 đến năm 2016 mà bà đã trình bày. Đồng thời, bà Đặng Dương A cũng không cung cấp được chứng từ, giấy biên nhận để đảm bảo việc đã nộp đơn gia hạn thể hiện nhu cầu thuê đất. Thực tế, bà Đặng Dương A không còn cư trú tại địa phương, không sử dụng đất trong khoảng thời gian nêu nên đã không tiếp tục nộp đơn xin gia hạn thuê đất.

Do đó, UBND huyện C (nay là đặc khu C) không có cơ sở, căn cứ để xem xét gia hạn quyền sử dụng đất thuê của bà A. Vì vậy, Phòng T2 đã đề xuất UBND huyện ban hành quyết định thu hồi phần đất thuê của bà Đặng Dương A theo đúng quy định của pháp luật.

- Cơ sở pháp lý từ chối việc gia hạn thuê đất của bà Đặng Dương A:

Căn cứ quy định tại điểm 4, điều 13 Luật đất đai năm 2013 quy định quyền của đại diện chủ sở hữu về đất đai như sau:

“4. Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đất”.

Căn cứ quy định tại tiết c, điểm 1, Điều 16 Luật đất đai năm 2013 quy định:

“c) Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người”.

Căn cứ quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 65 Luật Đất đai 2013 được hướng dẫn bởi Điều 65 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ và được sửa đổi bởi Khoản 42, 43 Điều 2 Nghị định 01/2017/NĐ-CP của Chính Phủ quy định các trường hợp thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người bao gồm: “d) Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn”.

Căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 66 Luật đất đai năm 2013 quy định thẩm quyền thu hồi đất như sau: “2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; ...”

Ngày 15/8/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 934/QĐ- UBND về việc thu hồi 1.200m² đất tại H II đã được UBND huyện cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và Quyết định số 372/QĐ-UB ngày 30/8/2002.

Cũng trên khu đất này, ngày 08/10/2019, Phòng T2 lập biên bản số 588/BB-TNMT làm việc liên quan đến việc thu hồi 1.200m² đất tại H của bà Đặng Dương A; cụ thể, Công ty Cổ phần N do ông Nguyễn Ngọc P1 (giám đốc điều hành công ty) làm đại diện là đơn vị trực tiếp sử dụng trình bày là có thỏa thuận hợp tác đầu tư với gia đình bà Đặng Dương A và bắt đầu lắp thiết bị từ tháng 02/2017 gồm: Dây chuyền sản xuất bê tông siêu nhẹ; Cải tạo nhà kho, sân bãi khuông viên (300m²); Văn phòng X bằng tường gạch, mái tôn (70m²); Khu tập thể cho công nhân (100m²); Giữa Công ty Cổ phần N và bà Đặng Dương A là thỏa thuận miệng hợp tác kinh doanh. Như vậy, việc tái sử dụng đất đã hết thời hạn mà không được xem xét gia hạn là chưa đúng với quy định pháp luật.

Do bà Đặng Dương A không xin gia hạn thời hạn sử dụng đất ngay khi hết thời hạn sử dụng (năm 2012), điều này thể hiện bà A không còn nhu cầu sử dụng đất. Sau đó, khoảng năm 2017 bà Đặng Dương A có hợp tác đầu tư với đơn vị thứ 3 và thỏa thuận giao Công ty Cổ phần N sử dụng khu đất trên. Thực tế, thời hạn mà UBND huyện cho phép bà Đặng Dương A thuê 1.200m² đất đã chấm dứt và không được xem xét tiếp tục gia hạn. Việc bà A chuyển tiếp cho đơn vị khác sử dụng lại đối với khu đất do Nhà nước quản lý là trái quy định pháp luật và không phù hợp với nội dung hợp đồng thuê đất mà các bên đã ký kết.

Mặt khác, việc sử dụng đất không được ổn định; không phù hợp quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng. Do đó, UBND huyện không có cơ sở xem xét, tiếp tục gia hạn thời gian sử dụng đất cho bà Đặng Dương A.

Ngày 15/8/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 934/QĐ- UBND về việc thu hồi 1.200m² đất tại H II đã được UBND huyện cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và Quyết định số 372/QĐ-UB ngày 30/8/2002 là đúng thẩm quyền và đúng theo quy định của pháp luật về quản lý đất đai.

Từ những phân tích nêu trên, UBND huyện C (nay là đặc khu C) đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khiếu kiện của bà Đặng Dương A đối với nội dung tuyên hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H II đã được UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và buộc UBND huyện C (nay là đặc khu C) phải tiếp tục gia hạn cho bà Đặng Dương A thuê đất theo quy định của Luật đất đai.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HCST ngày 07 tháng 7 năm 2022, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật tố tụng hành chính; Khoản 3 Điều 126 Luật đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A:

- Hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H đã được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và Quyết định số 372/QĐ.UB ngày 30/8/2002.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) giải quyết hồ sơ gia hạn thuê đất cho bà Đặng Dương A theo quy định Pháp luật.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 26/7/2022, người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) có đơn kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A hoặc hủy bản án sơ thẩm.

Tại Bản án hành chính phúc thẩm số 958/2022/HC-PT của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định bác kháng cáo của UBND huyện C (nay là đặc khu C), giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Ngày 24/9/2024, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án hành chính phúc thẩm số 958/2022/HC-PT.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 60/2024/HC-GĐT của Tòa án nhân dân tối cao đã quyết định hủy Bản án hành chính phúc thẩm số 958/2022/HC-PT; giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A.

- Người khởi kiện đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người bị kiện, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, từ khi thụ lý đến thời điểm hiện nay thấy rằng Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của Luật tố tụng hành chính, không có vi phạm.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HCST ngày 07 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh), bác yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của UBND huyện C (nay là đặc khu C) còn trong hạn luật định và hợp lệ được xem xét tại cấp phúc thẩm theo quy định tại Điều 206 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Người bị kiện có yêu cầu xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại Điều 3, Điều 30, Điều 32, khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung:

Xét tính hợp pháp của Quyết định số 934/UBND-TNMT ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C).

Về thẩm quyền ban hành quyết định:

Ngày 15/8/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 934/UBND-TNMT về việc về việc thu hồi 1.200m² đất tại đường H, khu dân cư S (Hương lộ II cũ), huyện C (nay là đặc khu C) đã được UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho bà A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và Quyết định số 372/QĐ.UB ngày 30/8/2002 là thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Về nội dung của Quyết định 934:

Ngày 06/6/2002, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định 221/QĐ.UB về việc thu hồi 1.000 m2 đất; ngày 30/8/2002, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định 372/QĐ.UB về việc thu hồi 200 m2 đất cùng tọa lạc tại đường H, huyện C (nay là đặc khu C) và cho bà Đặng Thị Dương A (tức bà Đặng Dượng A1) thuê toàn bộ diện tích đất 1.200 m2 nêu trên để đầu tư xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng, với thời hạn thuê là 05 năm kể từ ngày ký quyết định cho thuê đất.

Ngày 22/10/2002, Phòng Kinh tế huyện K (nay là đặc khu C) (thay mặt UBND huyện C (nay là đặc khu C)) với bà A1 đã ký Hợp đồng thuê đất số 02HĐ/TĐ với nội dung “Phòng kinh tế huyện K (nay là đặc khu C) cho bà A1 thuê diện tích 1.200 m2 đất với thời hạn thuê là 05 năm (từ ngày 06/6/2002 đến ngày 06/6/2007), phương thức nộp tiền thuê đất hàng năm, để đầu tư xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc gia dụng”.

Ngày 24/3/2008, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 135/QĐ-UBND về việc cho phép bà A1 được gia hạn sử dụng diện tích đất thuê đến ngày 06/6/2012. Ngày 15/8/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 934/QĐ-UBND về việc thu hồi 1.200 m2 đất mà UBND huyện C (nay là đặc khu C) đã cho bà A1 thuê với lý do đã hết thời hạn thuê đất kể từ ngày 06/6/2012 và không được gia hạn thuê theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 65 Luật đất đai năm 2013.

Xét, theo điểm a khoản 4 Điều 4 Hợp đồng thuê đất số 02HĐ/TĐ ngày 22/10/2002 quy định: “Hợp đồng thuê đất chấm dứt trong trường hợp hết thời hạn thuê đất mà không được gia hạn thuê tiếp”. Sau khi hết thời hạn thuê đất vào năm 2012, bà A1 không được UBND huyện C (nay là đặc khu C) gia hạn cho thuê diện tích 1.200m2 theo hợp đồng thuê đất số 02 nêu trên. Lẽ ra, bà A1 phải trả lại đất cho Nhà nước nhưng bà A1 đã không trả lại mà còn tiếp tục sử dụng đất. Đặc biệt, tháng 2/2017, bà A1 còn hợp tác với Công ty Cổ phần N để lắp đặt thiết bị sản xuất bê tông siêu nhẹ là không đúng mục đích sử dụng đất được quy định tại khoản 1 Điều 1 Hợp đồng thuê đất số 02HĐ/TĐ ngày 22/10/2002 (xây dựng xưởng sản xuất đồ mộc).

Đồng thời, đối chiếu với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của huyện C (nay là đặc khu C) đã được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 587/QĐ-UBND ngày 20/3/2014 và quy hoạch xây dựng theo Bản đồ quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 khu trung tâm C, huyện C (nay là đặc khu C) được UBND tinh B - Vũng Tâu phê duyệt tại Quyết định số 1010/QĐ-UBND ngày 28/4/2016, thì vị trị đất mà bà A1 xin gia hạn thuê đất được quy hoạch là đất thương mại dịch vụ (đất xây dựng khách sạn).

Quá trình giải quyết vụ án, bà A1 thừa nhận bà không xuất trình được tài liệu chứng cứ chứng minh về việc đã nộp đơn xin gia hạn thuê đất trước năm 2018; Đối với Đơn xin gia hạn thời gian thuê đất đề ngày 24/5/2013 là do bà A1 cung cấp là nộp vào năm 2019; Mặt khác, thực tế bà A1 không còn cư trú tại địa phương, không sử dụng đất trong khoảng thời gian nêu trên.

Do đó, ngày 27/5/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Công văn số 1555/UBND-TNMT với nội dung không xem xét gia hạn quyền sử dụng đất thuê cho bà A1 là có căn cứ. Ngày 15/8/2019, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Quyết định số 934/QĐ-UBND về việc thu hồi 1.200 m2 đất tại H đã cho bà A1 thuê theo Hợp đồng thuê đất số 02HĐ/TĐ ngày 22/10/2002 là đúng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 65 Luật đất đai năm 2013.

Vậy nên, bà A1 khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của UBND huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H II đã được UBND huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002, Quyết định số 372/QĐ.UB ngày 30/8/2002 và buộc UBND huyện C (nay là đặc khu C) giải quyết hồ sơ gia hạn thuê đất cho bà Đặng Dương A theo quy định pháp luật là không có cơ sở chấp nhận.

Đối với phần tài sản trên đất: Theo quy định tại Điều 5 của Hợp đồng thuê đất số 02HĐ/TĐ ngày 22/10/2002 thì “Hai bên thỏa thuận giải quyết tài sản gắn liền với việc sử dụng đất sau khi kết thúc hợp đồng này theo quy định của pháp luật”. Vậy nên, UBND huyện C (nay là đặc khu C) ban hành Thông báo số 236/TB-UBND về việc hướng dẫn bà A di dời tài sản, chuẩn bị quỹ đất sạch để bàn giao cho UBND huyện C (nay là đặc khu C) quản lý phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp các bên không thỏa thuận giải quyết được về tài sản trên đất theo quy định tại hợp đồng thuê đất nêu trên thì có thể khởi kiện vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; Chấp nhận kháng cáo của UBND huyện C (nay là đặc khu C), Sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên UBND huyện C (nay là đặc khu C) không phải chịu.

Án phí hành chính sơ thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện nên bà A phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận kháng cáo UBND huyện C (nay là đặc khu C); Sửa Bản án hành chính sơ thẩm số 62/2022/HC-ST ngày 07/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Nay là Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh).

2. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Đặng Dương A, về việc:

- Hủy Quyết định số 934/QĐ-UBND ngày 15/8/2019 của Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) về việc thu hồi 1.200m² đất tại H đã được Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) cho bà Đặng Dương A thuê theo Quyết định số 221/QĐ.UB ngày 06/6/2002 và Quyết định số 372/QĐ.UB ngày 30/8/2002.

- Buộc Ủy ban nhân dân huyện C (nay là đặc khu C) giải quyết hồ sơ gia hạn thuê đất cho bà Đặng Dương A theo quy định Pháp luật.

4. Về án phí:

- Án phí hành chính sơ thẩm: Bà Đặng Dương A phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0009894 ngày 02/6/2021 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Án phí hành chính phúc thẩm: UBND huyện C (nay là đặc khu C) không phải nộp; Hoàn trả cho UBND huyện C (nay là đặc khu C) 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000375 ngày 26/8/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Tửu Huỳnh Thanh Duyên

Lê Thị Tuyết Trinh

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ