- Tranh chấp gì? án hành chính — "VÕ VĂN L-UBND HUYỆN PHÙ MỸ"
- Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của ông Võ Văn L và giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Căn cứ chính? Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Luật Đất đai; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/HC-PT Ngày: 29/7/02/2025 V/v:“Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI ĐÀ NẴNG Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Văn Thường
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Kim Nhân
Ông Phạm Tồn Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Nhị Tứ – Thẩm tra viên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng. Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngô Ý Nhi - Kiểm sát viên. Ngày 29 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 213/2024/TLPT-HC ngày 02 tháng 6 năm 2025 việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2025/HC-ST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2025/QĐ-PT ngày 14/7/2025 giữa các đương sự: 1. Người khởi kiện: Ông Võ Văn L, sinh năm 1967; cư trú tại: Xóm G, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là xã T, tỉnh Gia Lai); có mặt. 2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là: Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định; Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
- Ông Lê Đình T, sinh năm 1988.
- Bà Hồ Thị Như T1, sinh năm 1994.
- Bà Võ Thị M, sinh năm 1953. Cùng cư trú tại: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã P, tỉnh Gia Lai). Các ông bà T, T1, M vắng mặt.
- Ông Võ Văn H, sinh năm 1953.
- Ông Võ Văn H1, sinh năm: 1955.
- Ông Võ Văn V, sinh năm 1962. Người đại diện theo uỷ quyền của ông V: bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1968.
- Ông Võ Văn Q, sinh năm 1964.
- Ông Võ Văn H2, sinh năm 1969.
Cùng cư trú tại: Xóm G, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định (nay là xã T, tỉnh Gia Lai). Các ông bà H, H1, Q, H2 có đơn xin xét xử vắng mặt; bà K có mặt.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H1:
- Bà Nguyễn Thị H3, sinh năm 1963.
- Bà Võ Thị H4, sinh năm 1983.
- Ông Võ Văn H5, sinh năm 1990.
- Ông Võ Văn K1, sinh năm 1992.
- Ông Võ Văn P, sinh năm 1985.
Cùng cư trú tại: Xóm G, khu phố V, thị trấn D, huyện T, tỉnh Bình Định (nay nay xã T, tỉnh Gia Lai). Các ông bà H4, H5, K1, P vắng mặt; bà H3 có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: ông Võ Văn L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Võ Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H, ông Võ Văn H1, ông Võ Văn Q, ông Võ Văn V, ông Võ Văn H2 trình bày:
Cha mẹ các ông là Võ Văn K2 và Phan Thị Đ (cha chết năm 1991, mẹ chết năm 1978) cha mẹ các ông có tất cả 06 người con Võ Văn H, ông Võ Văn H1, ông Võ Văn Q, ông Võ Văn V, ông Võ Văn H2, ông Võ Văn L, hiện nay mọi người điều có gia đình riêng ổn định. Khoảng năm 1970 cha mẹ các ông có 01 căn nhà và thửa đất trồng cây hoa màu diện tích gần 700m2 do ông bà nội các ông chết có để lại thửa đất nêu trên, đến đời cha mẹ các ông canh tác ổn định không có ai tranh chấp. Việc này những người dân ở tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định đều biết. Thửa đất này của anh em các ông chưa được cấp GCNQSDĐ. Khi cha mẹ các ông chết anh em các ông vẫn sử dụng ổn định thửa đất trên. Năm 2021, anh em họ tộc họp bàn cất nhà từ đường trên thửa đất không ai tranh chấp. Năm 2022, bà M cùng con là T và T1 ngang nhiên cất nhà trên thửa đất của gia đình các ông. Các ông có ngăn cảng nhưng bà M cùng con vẫn cất nhà và có hành vi kê khai cấp GCNQSDĐ nêu trên. Tuy nhiên, anh em các ông ở xa nên không biết việc bà M có hành vi lén lút thực hiện kê khai cấp GCNQSDĐ nêu trên và làm hợp đồng tặng cho nhà đất trên. Các ông đã làm đơn khiếu nại yêu cầu UBND xã M, tỉnh Bình Định giải quyết vào ngày 02/8/2023 nhưng không thành.
Do vậy, ông Võ Văn L làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết tuyên hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/07/2011 đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 (bao gồm 200m2 đất ở tại nông thôn và 478,2m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
Nguồn gốc đất tại thửa số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích là 678,2m2, tọa lạc tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định là của ông bà nội các ông tên Võ T2 và Đỗ Thị T3, ông bà nội các ông chết không để lại di chúc hay giấy tờ gì, chỉ để lại 01 ngôi nhà tranh và vườn cây ăn trái, qua thời gian ngôi nhà tranh bị sập. Đến năm 2021, các anh em trong họ tộc góp tiền xây nhà từ đường không có ai tranh chấp. Đến năm 2022 bà Võ Thị M cất nhà trên đất từ đường đó. Tháng 6/2022, bà Võ Thị M sang tặng cho con là Lê Đình T và vợ là Hồ Thị Như T1. Ngày giỗ ông nội các ông, bà M mới lấy sổ đỏ ra nói đã làm sổ đỏ rồi, anh em các ông mới biết.
Bên cạnh các đơn khởi kiện vụ án hành chính người khởi kiện còn cung cấp cho Tòa án một số tài liệu chứng cứ khác có liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, người khởi kiện không tự mình thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác mà không có yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án.
Ông Hồ Ngọc C – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định là người đại diện theo uỷ quyền của người bị kiện Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định trình bày:
Qua kiểm tra hồ sơ giao quyền sử dụng đất cho hộ bà Võ Thị M: Hộ bà Võ Thị M được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ bao gồm 9 thửa đất diện tích tổng số 4.295m2 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1846 QSDĐ/D10 ngày 09/11/1995. Trong đó, có thửa đất số 587, tờ bản đồ giải thửa số, diện tích 580m2 (đất ở 200m2, đất vườn 380m2) nay thuộc thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m2 (đất ở 200m2, đất trồng cây hàng năm khác 478,2m2). Theo ý kiến của UBND xã M tại Báo cáo số 84/BC-UBND ngày 29/8/2024. Tại thời điểm chốt nhân khẩu giao quyền, hộ bà M được cân đối giao quyền sử dụng đất bao gồm 05 thành viên: bà Võ Thị M, sinh năm 1953 (vợ), ông Lê Văn S, sinh năm 1950 (chồng), ông Lê Đình T, sinh năm 1988 (con), bà Lê Thị Phương N1, sinh năm 1990 (con), ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1992 (con), cùng trú tại thôn A. Khi Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định số 64/CP cho hộ bà Võ Thị M có 05 thành viên không có tên ông Võ Văn L trong hộ bà Võ Thị M.
Từ những kết quả nêu trên UBND huyện P cấp GCNQSD thửa đất số 587, tờ bản đồ giải thửa số 4, diện tích 580m2 (đất ở 200m2, đất vườn 380m2) nay thuộc thửa dất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 687,2m2 (đất ở 200m2, đất trồng cây hàng năm khác 478,2m2) và cấp đổi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH07366 ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M tại thôn A, xã M là đúng quy định pháp luật. Việc ông Võ Văn L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định hủy GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 (bao gồm 200m2 đất ở tại nông thôn và 478,2m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định là không có cơ sở. Do đó, UBND huyện P không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L. UBND huyện P có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Ông Huỳnh Chí T4 - Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Bình Định trình bày:
Qua kiểm tra hồ sơ giao quyền sử dụng đất cho hộ bà Võ Thị M: Hộ bà Võ Thị M được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất ổn định lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ bao gồm 9 thửa đất diện tích tổng số 4.295m2 tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1846 QSDĐ/D10 ngày 09/11/1995. Trong đó, có thửa đất số 587, tờ bản đồ giải thửa số 4, diện tích 580m2 (đất ở 200m2, đất vườn 380m2) nay thuộc thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m2 (đất ở 200m2, đất trồng cây hàng năm khác 478,2m2). Tại thời điểm chốt nhân khẩu giao quyền, hộ bà M được cân đối giao quyền sử dụng đất bao gồm 05 thành viên: Bà Võ Thị M, sinh năm 1953 (vợ), ông Lê Văn S, sinh năm 1950 (chồng), ông Lê Đình T, sinh năm 1988 (con), bà Lê Thị Phương N1, sinh năm 1990 (con), ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1992 (con), cùng trú tại: thôn A. Khi Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định số 64/CP cho hộ bà Võ Thị M có 05 thành viên không có tên ông Võ Văn L trong hộ bà Võ Thị M.
Từ những kết quả nêu trên UBND huyện P cấp GCNQSD thửa đất số 587, tờ bản đồ giải thửa số 4, diện tích 580m2 (đất ở 200m2, đất vườn 380m2) nay thuộc thửa dất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 687,2m2 (đất ở 200m2, đất trồng cây hàng năm khác 478,2m2) và cấp đổi GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH07366 ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M tại thôn A, xã M là đúng quy định pháp luật. Việc ông Võ Văn L yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định hủy GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 (bao gồm 200m2 đất ở tại nông thôn và 478,2m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định là không có cơ sở. Do đó, UBND xã M không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L. UBND xã M có ý kiến để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng hành chính của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Văn H1 là bà Nguyễn Thị H3, bà Võ Thị H4, ông Võ Văn H5, ông Võ Văn K1, ông Võ Văn P đều thống nhất như bản khai của ông Võ Văn H1. Ngoài ra không có ý kiến gì bổ sung và đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bà Võ Thị M và các con ông Lê Đình T, bà Lê Thị Thu T5 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 (bao gồm 200m2 đất ở tại nông thôn và 478,2m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định là của cha mẹ bà để lại cho bà. Cha bà tên Võ N2 và mẹ tên Võ Thị H6, cha mẹ bà đã chết, mẹ bà chết lâu nên không nhớ rõ, cha bà chết năm 1987. Cha mẹ bà có 8 người con, hiện 5 người còn sống và 3 người đã chết 02 người chết lúc còn nhỏ, 01 người có vợ và 08 người con. Cha mẹ bà chết không để lại di chúc hay giấy tờ gì khác. Khi cha bà chết Nhà nước có gọi bà đến đăng ký kê khai vì bà sống trên đất đó từ nhỏ. Bà được Nhà nước cấp GCNQSDĐ vào ngày 09/11/1995. Ngày 11/7/2011, Nhà nước tách thành 8 sổ hồng. Thời gian bà đi vào N thăm em bà thì gia đình ông L tự ý xây nhà bà không biết, bà có hỏi nhưng gia đình ông L nói xây nhà để thờ cúng ông bà nên bà không đi kiện. Hơn nữa, cha của ông L là em ruột của cha bà nên bà nghĩ làm nhà là để thờ cúng ông bà nên bà không đi kiện.
Nay ông Võ Văn L khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết hủy GCNQSDĐ, QSH nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 (bao gồm 200m2 đất ở tại nông thôn và 478,2m2 đất trồng cây hàng năm khác) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L. Bà đề nghị Tòa bác yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L và buộc ông Võ Văn L tháo dở nhà và trả lại đất cho gia đình bà.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 08/2025/HC-ST ngày 13/03/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định:
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M tại thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m² (đất ở 200m², đất trồng cây hàng năm khác 478,2m²) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bỉnh Định.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/3/2025, ông Võ Văn L có đơn kháng cáo không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nêu trên và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/07/2011 đối với thửa đất số 387, tờ bản đồ số 27, diện tích 678,2m2 tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định.
Sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng đề nghị xét xử vắng mặt đương sự, không chấp nhận kháng cáo của ông L, giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét nội dung kháng cáo của ông Võ Văn L; Hội đồng xét xử thấy rằng:
. Về thời hiệu, thời hạn, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M là phù hợp với quy định của Luật đất đai năm 2003; Nghị đinh số 181/CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật đất đai.
. Về thẩm quyền ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M là phù hợp với quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003; Luật Đất đai năm 2003; Nghị đinh số 181/CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành Luật Đất đai quy định về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì ông Hà Ngọc T6 – Chức vụ phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Bình Định (Theo lĩnh vực được phân công, ủy quyền thường xuyên) ký ban hành Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M là đúng quy định của pháp luật.
. Xét tính hợp pháp và có căn cứ về nội dung của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M, thì thấy:
Hộ bà Võ Thị M được Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo Nghị định 64/CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ bao gồm 09 thửa đất, diện tích tổng số 4.295m² tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1846/QSDĐ/D10 ngày 09 tháng 11 năm 1995. Trong đó, có thửa đất số 587, tờ bản đồ số 4, diện tích 580m² (đất ở 200m², đất vườn 380m²), nay thuộc thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m² (đất ở 200m²; đất trồng cây hàng năm khác 478,2m²).
Theo ý kiến của UBND xã M tại Báo cáo số 84/BC-UBND ngày 29 tháng 8 năm 2024; tại thời điểm chốt nhân khẩu giao quyền, hộ bà M được cân đối giao quyền sử dụng đất bao gồm các thành viên sau: bà Võ Thị M, ông Lê Văn S, ông Lê Đình T, bà Lê Thị Phương N1, ông Lê Văn Đ1. Khi Nhà nước cân đối giao quyền sử dụng đất theo Nghị định số 64/CP cho hộ bà Võ Thị M có 05 thành viên không có tên ông Võ Văn L trong hộ bà Võ Thị M.
Từ những kết quả nêu trên UBND huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 587, tờ bản đồ giải thửa số 4, diện tích 580m² (đất ở 200m², đất vườn 380m²), nay thuộc thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m² (đất ở 200m², đất trồng cây hàng năm khác 478,2m²) và cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH07366 ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M là đúng quy định của pháp luật. Đến ngày 25/03/2022 các thành viên trong hộ gia đình bà Võ Thị M đã lập hợp đồng thừa kế giao toàn bộ thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27 cho bà Võ Thị M được trọn quyền sở hữu, sử dụng đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Bỉnh Định chỉnh lý, đăng ký biến động cho bà Võ Thị M. Đến ngày 27/06/2022 bà Võ Thị M đã lập hợp đồng tặng cho toàn bộ thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m² cho ông Lê Đình T được trọn quyền sở hữu, sử dụng đã được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện P, tỉnh Bỉnh Định chỉnh lý, đăng ký biến động sang tên cho ông Lê Đình T vào ngày 27/06/2022 là đúng quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, qua nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy trình tự, thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1846/QSDĐ/D10 ngày 09/11/1995 cho hộ bà Võ Thị M sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M là không đúng quy định của pháp luật đất đai. Do đó, kiến nghị UBND huyện P tiến hành các thủ tục để đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đúng đối tượng sử dụng đất là hộ bà Võ Thị M.
Với nhận định trên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm ông Lưu K3 cung cấp chứng cứ mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo ông L và giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm là phù hợp đề nghị của Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc tại Đà Nẵng.
Theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí và lệ phí Tòa án thì ông Võ Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng Hành chính; Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 157, Điều 158, khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 194 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật Đất đai năm 2003; Nghị định số 181/CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết về thi hành Luật Đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác kháng cáo của ông Võ Văn L và giữ nguyên quyết định Bản án hành chính sơ thẩm số 03/2025/HC-ST ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Võ Văn L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 07366 do UBND huyện P cấp ngày 01/7/2011 cho bà Võ Thị M tại thửa đất số 387, tờ bản đồ địa chính số 27, diện tích 678,2m² (đất ở 200m², đất trồng cây hàng năm khác 478,2m²) tại thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bỉnh Định.
2. Về án phí hành chính sơ thẩm: Ông Võ Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002128 ngày 23/4/2025 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Định (nay là Thi hành án dân sự tỉnh G). Ông L nộp xong.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VCT7XXPT tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - THADS tỉnh Gia Lai; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Văn Thường |