- Tranh chấp gì? Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn ông Trần Thái T.
- Căn cứ chính? Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2025/DS-ST Ngày: 14/7/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Như Thủy;
2. Bà Trương Thị Đạt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Loan – là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 7 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 6, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 812/2024/DSST ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 198/2025/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 199/2025/QĐST-DS ngày 23 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín; Địa chỉ mới: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: Số 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh Nhung.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Thân Lê Nguyên, sinh năm 1978; địa chỉ mới: 50/12 Đường B khu Adc, phường Phú Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: 50/12 Đường B khu Adc, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)
2. Bị đơn: Ông Trần Thái T, sinh năm: 1972; Địa chỉ mới: CE4, Lô R16-2 Hưng Vượng 3, phường Tân Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: CE4, Lô R16-2 H, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các Bản tự khai, Biên bản hòa giải tại Tòa án, nguyên đơn có ông Thân Lê Nguyên là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 19/03/2010, ông T có ký với Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng– các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông T, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 40.914.395 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 32.710.000 đồng.
Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cụ thể việc thanh toán sẽ được áp dụng theo thứ tự như sau:
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi của kỳ trước
+ Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước
+ Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước
+ Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ
+ Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ
+ Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông T vẫn không có T chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 16/12/2011 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu là 21.807.007 đồng sang quá hạn, làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 3.225%/tháng (= lãi suất trong hạn 2.6%/tháng x 150%) (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Tính đến ngày 14/07/2025, ông T còn nợ các khoản sau:
• Dư nợ gốc: 21.807.007 đồng
• Lãi quá hạn: 116.277.280 đồng
• Tổng cộng: 138.084.287 đồng
(Bằng chữ: Một trăm ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng)
Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu ông T có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên Ông T vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn:
Buộc ông Trần Thái T phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 14/07/2025 là 138.084.287 đồng (Bằng chữ: Một trăm ba mươi tám triệu, không trăm tám mươi bốn nghìn, hai trăm tám mươi bảy đồng) trong đó:
- Dư nợ gốc: 21.807.007 đồng
- Lãi quá hạn: 116.277.280 đồng
Và ông Trần Thái T có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 15/07/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về phía bị đơn ông Trần Thái T, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 6 đã nhiều lần triệu tập ông Trần Thái T đến trụ sở Tòa án để giải quyết vụ kiện theo đúng quy định pháp luật nhưng ông Trần Thái T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do, không có văn bản, ý kiến phản hồi mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia giải quyết vụ án, tham gia phiên tòa.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6:
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự.
Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hợp đồng tín dụng đã ký thì thỏa thuận giữa nguyên đơn và bị đơn là tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín có ông Thân Lê Nguyên là người đại diện theo ủy quyền có đơn xin xét xử vắng mặt.
Tại đơn khởi kiện nguyên đơn cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của bị đơn là: CE4, Lô R16-2 Hưng Vượng 3, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo địa chỉ được ông Trần Thái T ghi trong giao dịch Giấy đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng và các văn bản khác với nguyên đơn đều thể hiện ông Trần Thái T tạm trú tại địa chỉ: CE4, Lô R16-2 Hưng Vượng 3, phường Tân Phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Theo kết quả trả lời xác minh của Công an phường Tân Phong, Quận 7 tại Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 388/2025/QĐ-CCTLCC ngày 16/6/2025 của Tòa án nhân dân Quận 7 “Qua rà soát tại căn hộ CE4 (C3-03) Lô R16-2, Hưng Vượng 3, khu phố 4, phường Tân phong, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai thực tế cư trú; đương sự Trần Thái T không có đăng ký thường trú, không có đăng ký tạm trú tại địa chỉ trên.”
Trong bản tự khai ngày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có xác nhận địa chỉ cư trú của ông T là ở địa chỉ trên.
Căn cứ vào Điều 10 Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng thì việc thay đổi thông tin chủ thẻ phải thông báo ngay cho đơn vị phát hành thẻ.
Vì vậy trong đơn khởi kiện nguyên đơn đã ghi đúng và đầy đủ địa chỉ nơi cư trú của bị đơn ông Trần Thái T. Nay ông Trần Thái T vắng mặt tại địa phương nhưng không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới theo quy định tại Khoản 3 Điều 40, Điểm b Khoản 2 Điều 277 Bộ luật Dân sự 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ Điểm e Khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
[1.3] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay. Đây là “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” là loại tranh chấp được quy định tại Khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh theo Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đối với bị đơn ông Trần Thái T là trường hợp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về chứng cứ và nghĩa vụ chứng minh: Tại Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn không có ý kiến phản hồi và không phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ gì, vắng mặt không có lý do và không có ý kiến phản hồi. Căn cứ Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì ông Trần Thái T đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình qua việc không đến Tòa tham gia tố tụng, phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án giải quyết vụ việc trên theo những chứng cứ có trong hồ sơ.
Về yêu cầu khởi kiện của đương sự:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 14/7/2025 là 138.084.287 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 21.807.007 đồng; Lãi quá hạn là: 116.277.280 đồng; Yêu cầu trả ngay một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra kể từ ngày 15/7/2025 trở đi, bị đơn còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán hết nợ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 19/3/2010 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và ông Trần Thái T, bảng sao kê tài khoản và các chứng cứ khác trong hồ sơ có cơ sở xác định ông Trần Thái T có đề nghị vay và đã được nguyên đơn chấp thuận cho vay với hạn mức 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Ngày 16/12/2011 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 14/7/2025 ông Trần Thái T còn nợ số tiền là: 138.084.287 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 21.807.007 đồng; Lãi quá hạn là: 116.277.280 đồng.
Căn cứ theo các điều khoản ký kết trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 19/3/2010 thì ông Trần Thái T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Căn cứ Khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì “bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Đến nay bị đơn ông Trần Thái T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ tính đến ngày 14/7/2025 ông Trần Thái T còn nợ số tiền là: 138.084.287 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 21.807.007 đồng; Lãi quá hạn là: 116.277.280 đồng là phù hợp với các điều khoản trong hợp đồng đã ký kết, phù hợp Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng đính kèm theo hợp đồng và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91, Khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng nên có cơ sở và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm bị đơn vẫn phải trả lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 19/3/2010 cho đến khi trả hết nợ.
Về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn nợ một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên với yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên phía bị đơn phải chịu tiền án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là 6.904.214 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã đóng theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 91; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 2 Điều 91 và Khoản 2 Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ Luật phí, lệ phí và Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Căn cứ vào Điều 26 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung 2014;
Xử:
1. Về hình thức: Xử vắng mặt nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn ông Trần Thái T.
2. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.
2.1. Buộc ông Trần Thái T phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổng số tiền nợ tính đến ngày 14/7/2025 ông Trần Thái T còn nợ số tiền là: 138.084.287 đồng. Trong đó: Nợ gốc là: 21.807.007 đồng; Lãi quá hạn là: 116.277.280 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực thi hành.
2.2 Kể từ ngày 15/7/2025 trở đi, ông Trần Thái T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ký ngày 19/3/2010 và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng cho đến khi thi hành án xong.
2.3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Thái T phải chịu 6.904.214 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín số tiền tạm ứng án phí đã đóng là 3.124.491 (ba triệu một trăm hai mươi bốn nghìn bốn trăm chín mươi mốt) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0036796 ngày 25/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. (Nay là Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh - Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6).
3. Quyền yêu cầu thi hành án, thời hiệu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 1, Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín và bị đơn ông Trần Thái T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát được quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6; - Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu VT, hồ sơ (TK Loan). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Diễm Phương |