vanban.org

Bản án 05/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Thốt Nốt, TP. Cần Thơ Tuyên án 19/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QU N TH T N T
THÀNH PH CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HSST
Ngày: 19 - 01- 2024

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QU N TH T N T - THÀNH PH CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Kiệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Viết Ngoan

2. Bà Trần Thúy Kiên

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng –Thư ký Toà án nhân dân qu n

Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân qu n Th t N t - thành ph Cần Thơ tham

gia phiên toà: Ông Võ Hoài Thƣơng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại tr s Tòa án nhân dân qu n Thốt Nốt -

thành phố Cần Thơ, ti n hành xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 88/2023/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quy t định đưa v án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo: Họ và tên: Huỳnh Văn N, sinh năm 1982. Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang; Nơi : Khu vực L, phường T, qu n T, Tp Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không (tại Tòa khai theo đạo Ph t); Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Họ tên cha: Huỳnh Văn T, (ch t); Họ tên mẹ: Hồ Thị M, sinh năm 1943 (sống); Chị ruột có 04 người (lớn - sinh năm 1964, nhỏ - sinh năm 1978); Tiền án, tiền sự: Chưa;

Bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an qu n T, thành phố Cần Thơ kể từ ngày 06/9/2023 cho đ n nay. Có mặt.

Người bị hại:

1. Bà Trần Thị Kim H – sinh năm 1964. Vắng mặt

2. Ông Phạm Văn S – sinh năm 1962. Vắng mặt

Cư trú: Khu vực L, P. T, Q. T, Tp ..

NỘI DUNG V ÁN:

Qua các tài liệu có trong h sơ v án và quá trình xét h i, tranh lu n tại phiên tòa, nội dung v án đư c tóm t t như sau:

Từ năm 2021 đ n tháng 6/2023, Huỳnh Văn N sinh sống tại gia đình bà Trần Thị Kim H thuộc khu vực L, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ, nên N bi t rõ sinh hoạt hàng ngày của gia đình bà H. Khoảng 08 giờ ngày 05/9/2023, N đ n nhà bà H, lợi d ng lúc không ai để ý N lấy 02 chìa khoá cửa sau của nhà bà H mang đ n tiệm sửa ổ khóa thuê làm ra 02 chìa khóa khác với m c đích là để đột nh p vào nhà bà H trộm cắp tài sản. Sau khi làm xong 02 chìa khóa, N mang chìa khóa cũ để lại vị trí cũ của nhà bà H, cất giấu 02 chìa khóa mới.

Đ n khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, N mang theo 02 chìa khóa mới, đi bộ từ nhà trọ của N thuộc khu vực L, phường T, qu n T đ n nhà bà Trần Thị Kim H. Khi đ n nhà bà H, N sử d ng chìa khóa mới m cửa sau đột nh p vào nhà, đi vào phòng ngủ (không có ai bên trong phòng) tìm tiền để trộm nhưng không có. N phát hiện 01 két sắt màu xám có kí hiệu BAUCHETC, kích thước (45x55x62)cm của gia đình bà Trần Thị Kim H nên nảy sinh ý định lấy trộm két sắt. N dùng tay kéo két sắt đ n cửa nhà sau, do két sắt nặng N tr về nhà trọ của N lấy 01 xe đẩy bằng kim loại có gắn 04 bánh xe, rồi quay lại nhà của bà H, dùng tay đẩy két sắt nằm lên xe đẩy, lấy khăn cửa sau nhà bà H phủ lên nhằm che giấu két sắt. Sau đó, N đóng cửa sau, kéo xe đẩy cùng két sắt đ n khu đất trống gần trường tiểu học T1 thuộc khu vực L, phường T cất giấu và về nhà trọ ngủ. Đ n khoảng 07 giờ ngày 06/9/2023, gia đình bà H phát hiện bị mất trộm nên trình báo cơ quan Công an.

Nh n được tin báo, Đ Công an qu n T phối hợp cùng Cơ quan chức năng ti n hành khám nghiệm hiện trường, truy xét camera, ti n hành thu hồi lại két sắt hiệu BAUCHETC đã qua sử d ng màu đen, cửa màu bạc kích thước (55x45x62)cm, không phát hiện dấu v t cạy phá, tại khu đất trống thuộc khu vực L, phường T. Sau khi thu hồi két sắt, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an qu n ti n hành cho bà Trần Thị Kim H nh n dạng, bà H xác định đúng là két sắt bị mất trộm của gia đình. Đ n 17 giờ cùng ngày, Huỳnh Văn N đ n cơ quan Công an đầu thú và khai nh n toàn bộ hành vi.

Tài sản tạm giữ gồm:

01 két sắt màu xám có kí hiệu BAUCHETC, kích thước 45cm x 55cm x 62cm, khóa bằng chìa khoá và 04 nút vặn m t mã;

01 xe đẩy bằng kim loại, chiều ngang 50cm, chiều dài 80cm, chiều cao 80cm, có gắn bốn bánh xe;

01 quần dài loại vải kaki màu vàng nâu đã qua sử d ng;

01 nón k t màu đen đã qua sử d ng;

01 đôi vớ màu đen đã qua sử d ng;

Cơ quan chức năng ti n hành kiểm tra bên trong két sắt, có sự chứng ki n của Huỳnh Văn N, ghi nh n các tài sản như sau:

- Tiền Việt Nam: 6.830.000 đồng.

- Giấy tờ: 01 (một) giấy chứng nh n quyền s hữu nhà và sử d ng đất số E đứng tên ông Phạm Ngọc V và bà Nguyễn Thị B; 01 (một) giấy chứng nh n quyền sử d ng đất số DC709263 đứng tên Trần Thị Kim H; 01 (một) sổ ti t kiệm số KA444560 đứng tên Trần Thị Kim H của ngân hàng B1; 01 (một) sổ ti t kiệm số KA444579 đứng tên Trần Thị Kim H của ngân hàng B1; 01 (một) sổ ti t kiệm số KA444340 đứng tên Trần Thị Kim H của ngân hàng B1; 01 (một) sổ ti t kiệm số AD00021194484 đứng tên Trần Thị Kim H của ngân hàng A; 01 (một) sổ ti t kiệm số TB1038434 đứng tên Trần Thị Kim H của ngân hàng T2.

- Nữ trang: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu dáng mắc xích xen hình tr , có mặt dây hình chữ nh t; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu dáng khoen l t; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, kiểu dáng kiểu hoa mai; 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, móc máy xoắn Ý; 01 (một) cái kiềng bằng kim loại màu vàng kiểu dáng thắt bím; 01 (một) cái vòng tay bằng kim loại màu vàng, có kí hiệu GF 30 23K. 01 (một) nhẫn bằng kim loại màu vàng kiểu dáng hình con cóc, đính đá; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng kiểu dáng hoa mai đính đá màu vàng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng kiểu dáng hoa mai đính đá màu trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng dáng hoa mai, đồng tiền, đính đá trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, kiểu dáng đồng tiền, đính đá trắng; 01 (một) nhẫn kim loại màu vàng, kiểu dáng trơn; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại vàng, kiểu dáng hoa mai, đính đá hồng, trắng; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng dáng tròn, đính đá; 01 (một) mặt dây chuyền kim loại màu vàng, hình giọt nước, có đính đá; 01 (một) mặt dây chuyền hình Ph t bằng đá màu xanh ngọc, có bọc kim loại màu vàng; 01 (một) mặt dây chuyền hình Ph t bằng kim loại màu vàng, có đính đá màu tím; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có đính đá trắng, hình bông hoa mai; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng hoa mai có đính đá; 01 (một) đôi bông tai bằng kim loại màu vàng đính hạt màu trắng; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng hình hoa mai, đính đá trắng; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng hình hoa 06 cánh; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu vàng hình hoa mai đính đá màu trắng; 01 (một) đôi bông tai kim loại màu trắng đính đá trắng, dáng tròn.

Qua xác minh, khảo sát tại tiệm V1 thuộc khu vực L, phường T, qu n T, thành phố Cần Thơ, ti n hành áp d ng phương pháp đo quang phổ và cân trọng lượng các loại nữ trang, xác định toàn bộ số nữ trang trên là vàng th t.

Tại bản k t lu n định giá tài sản số 67/BKL-HĐĐGTS ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND qu n T, thành phố Cần Thơ xác định: Tổng số tài sản là nữ trang vàng các loại có giá trị là 272.105.500 đồng (hai trăm bảy mươi hai triệu một trăm lẻ năm ngàn năm trăm đồng).

Tại bản k t lu n định giá tài sản số 79/BKL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 10 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND qu n T, thành phố Cần Thơ, xác định: 01 (một) cái két sắt màu xám có kí hiệu BAUCHETC, kích thước 45cm x 55cm x 62cm, khóa bằng chìa khoá và 04 nút vặn m t mã, đã qua sử d ng có giá trị là 1.000.000 đồng (một triệu đồng).

Về tang v t: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý theo quy định bằng hình thức ra quy t định trả lại cho bà Trần Thị Kim H 01 két sắt BAUCHETC và toàn bộ các tài sản bên trong két sắt gồm giấy tờ, nữ trang, tiền Việt Nam. Còn các đồ v t khác tạm giữ theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bà Trần Thị Kim H yêu cầu Huỳnh Văn N bồi thường số tiền 500.000 đồng về chi phí sơn, sửa két sắt, Huỳnh Văn N đã bồi thường xong. Tại Cáo trạng Số 99/CT-VKS ngày 15 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân qu n T - Tp ., truy tố bị cáo Huỳnh Văn N về tội "trộm c p tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nh n toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị:

Về trách nhiệm hình sự: Áp d ng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N 07 (bảy) năm đ n 08 (tám) năm tù.

+ Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do hoàn cảnh bị cáo khó khăn.

Về trách nhiệm dân sự, x lý v t ch ng:

- Công nh n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an qu n T đã ra Quy t định xử lý v t chứng trả lại cho người bị hại là bà Trần Thị Kim H và ông Phạm Văn S 01 két sắt BAUCHETC và toàn bộ các tài sản bên trong két sắt gồm giấy tờ, nữ trang, tiền Việt Nam; và bồi thường chi phí sơn sửa lại két sắt với số tiền 500.000 đồng xong; người bị hại không có yêu cầu gì khác.

- Tịch thu tiêu hủy các đồ v t sau đây do không giá trị sử d ng, bị cáo không yêu cầu nh n lại:

+ 01 (một) cái xe đẩy bằng kim loại, chiều ngang 50cm, chiều dài 80cm, chiều cao 80cm, có gắn bốn bánh xe;

+ 01 (một) quần dài loại vải kaki màu vàng nâu đã qua sử d ng;

+ 01 (một) nón k t màu đen đã qua sử d ng;

+ 01 (một) đôi vớ màu đen đã qua sử d ng;

Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA HỘI Đ NG X T X :

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh lu n tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n thấy như sau:

[1] Về hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an qu n T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân qu n Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào khi u nại về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quy t định tố t ng của Cơ quan ti n hành tố t ng, người ti n hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Trong điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nh n hành vi phạm tội, lời nh n tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác được thu th p trong quá trình điều tra. Như v y, có cơ s xác định vào khoảng 01 giờ 30 phút ngày 06/9/2023, lợi d ng lúc mọi người đang ngủ, tầng trệt nhà của bà Trần Thị Kim H không có người trông coi, bị cáo Huỳnh Văn N đã dùng chìa khóa do bị cáo đặt làm trước đó 01 ngày để m cửa đột nh p vào nhà, đi vào phòng ngủ tìm tài sản để lấy trộm. Tài sản mà bị cáo lén lút lấy được là 01 cái két sắt màu xám có kí hiệu BAUCHETC, kích thước 45cm x 55cm x 62cm, khóa bằng chìa khoá và 04 nút vặn m t mã, qua định giá có giá trị là 1.000.000 đồng; và tài sản bên trong két sắt gồm số tiền 6.830.000 đồng, nữ trang vàng các loại có giá trị 272.105.500 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chi m đoạt là 279.935.500 đồng. Hành vi mà Huỳnh Văn N thực hiện đã trực ti p xâm phạm đ n quyền s hữu về tài sản của người khác, được pháp lu t bảo vệ, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện với lỗi cố ý trực ti p. Do đó, việc truy tố, xét xử bị cáo Huỳnh Văn N về tội “trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi bị cáo thực hiện là nguy hiểm đối với xã hội, xâm hại đ n quyền s hữu tài sản của người khác được pháp lu t bảo vệ. Bị cáo là người có khả năng lao động để tạo ra thu nh p chính đáng ph c v cuộc sống nhưng do lòng tham nên đã chi m đoạt trái phép tài sản của người khác, người mà bị cáo đã từng nương nhờ. Do đó, cần phải có hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian tương xứng để răn đe, giáo d c bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Xét thấy, sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã có thiện chí bồi thường khắc ph c h u quả cho phía bị hại. Vì v y, có xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Không cần thi t áp d ng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự và xử lý v t chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp; nên chấp nh n.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp lu t.

Vì các lẽ trên, Hội đồng xét xử;

QUYẾT Đ NH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Trộm c p tài sản”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

Áp d ng: điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

+ Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ (06/9/2023).

+ Hình phạt bổ sung: Không áp d ng.

2. Về trách nhiệm dân sự, xử lý v t chứng: Áp d ng Điều 47; 48 của Bộ lu t Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015.

- Công nh n Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an qu n T đã ra Quy t định xử lý v t chứng trả lại cho người bị hại là bà Trần Thị Kim H và ông Phạm Văn S 01 két sắt BAUCHETC và toàn bộ các tài sản bên trong két sắt gồm giấy tờ, nữ trang, tiền Việt Nam; và bồi thường chi phí sơn sửa lại két sắt với số tiền 500.000 đồng xong; người bị hại không có yêu cầu gì khác.

- Tịch thu tiêu hủy các đồ v t sau:

+ 01 cái xe đẩy bằng kim loại, chiều ngang 50cm, chiều dài 80cm, chiều cao 80cm, có gắn bốn bánh xe;

+ 01 quần dài loại vải kaki màu vàng nâu đã qua sử d ng;

+ 01 nón k t màu đen đã qua sử d ng;

+ 01 đôi vớ màu đen đã qua sử d ng;

3. Về án phí: Áp d ng Điều 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự năm 2015; Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa v liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nh n được bản án hoặc bản án được niêm y t theo quy định pháp lu t.

TM. HỘI Đ NG XÉT X SƠ THẨM

Cỡ chữ