vanban.org

Bản án 05/2024/HSST — Hình sự

TAND Q. Long Biên, TP. Hà Nội Tuyên án 05/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Thị T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Ánh cho Ủy ban nhân dân phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Thi hành án
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2024/HSST
Ngày: 05/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Nga

- Thư ký phiên Tòa: Ông Lưu Tuấn Long – Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên-Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đoan Trang – Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội đã xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 370/2023, ngày 25 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo: Họ và tên: Trần Thị T, sinh năm 1977. HKTT và chỗ ở: Số nhà 485 ngõ 405, tổ 38 phường N, quận L, Thành phố H. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Văn hóa 10/10. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Văn S sinh năm 1955. Con bà: Nguyễn Thị T sinh năm 1954. Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là thứ hai. Chồng: Nguyễn Văn S sinh năm 1971; có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Theo danh chỉ bản số 0000000750 lập ngày 01/12/2023 tại Công an quận Long Biên và lý lịch bị can thể hiện bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

(Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Chị Nguyễn Quỳnh Trâm sinh năm 2004. Trú tại: Ngõ 49/87, tổ 19, phường Đức Giang, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 20h00’ ngày 26/11/2023 T đến quán nước ODDO địa chỉ 122 đường Ngọc Thụy để uống nước. Khoảng 21h00’ ngày cùng ngày chị Nguyễn Quỳnh Trâm (SN: 2004, HKTT: Tổ 19 P. Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội, là nhân viên của quán ODDO) để điện thoại Iphone 12 Promax màu xanh, ốp màu cam của mình ở bậc thềm vỉa hè trước cửa quán khu vực khách hay ngồi uống nước sau đó do bận công việc nên chị Trâm đứng lên phục vụ. Lúc này T phát hiện gần vị trí ngồi của mình có 01 chiếc điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh, ốp màu cam không có ai quản lí nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này. T đã lấy điện thoại, cất vào túi quần bên trái mang về nhà ở số 485 Bắc Cầu, Long Biên, Hà Nội tháo sim, tắt nguồn điện thoại để cất giấu. Ngày 28/11/2023 nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên T đã đến Công an phường Ngọc Thụy để đầu thú.

Tang vật thu giữ của T: 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro max màu xanh, ốp màu cam bên ngoài; 01 quần bò nữ màu xanh và 01 chiếc áo cộc tay màu xanh .

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 233/KL-HĐĐGTS ngày 29/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Long Biên kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng, 128GB trị giá: 11.000.000 đồng ( Mười một triệu đồng), 01 ốp điện thoại trị giá 5000 đ, 01 sim 0 đồng . Tổng giá trị tài sản: 11.005.000 đ ( Mười một triệu không trăm linh năm nghìn đồng).

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố bị cáo Trần Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm

Bị cáo Trần Thị T khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm nhân dân quận Long Biên sau khi tóm tắt nội dung sự việc, đánh giá lời khai của bị cáo và các tài liệu có trong hồ sơ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; trình bầy lời luận tội và đề nghị như sau:

Đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Trần Thị T từ 8 tháng đến 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì phần dân sự do vậy không xem xét giải quyết.

Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần và 01 chiếc áo thu giữ của bị cáo vì bị cáo không đề nghị được nhận lại.

Bị cáo T sau khi nghe quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, bị cáo thừa nhận có tội và thừa nhận đã có hành vi Trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật. Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận. Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

.Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Long Biên, Thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

.Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 26/11/2023 tại địa chỉ số 122 đường Ngọc Thụy, phường Long Biên, quận Long Biên, Hà Nội, bị cáo Trần Thị T có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động Iphone 12 Promax màu xanh đã qua sử dụng của chị Nguyễn Quỳnh Trâm tổng giá trị tài sản: 11.005.000 đ ( Mười một triệu không trăm linh năm nghìn đồng). Hành vi phạm tội lần này của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã cố ý xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Bộ luật hình sự bảo vệ và gây mất trật tự trị an xã hội.

Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 là hoàn toàn đúng người, đúng tội.

. Về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sư: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị cáo chưa có tiền án tiền sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm này bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Sau khi thực hiện hành vi bị cáo đã chủ động đầu thú. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tình tiết tăng nặng: Không

.Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã viện dẫn nêu trên, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo xong cũng xét tại cơ quan điều tra cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, chưa thu được lời, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội cũng có tác dụng giáo dục đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản đã thu hồi trả cho người bị hại, do vậy thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về dân sự: Chị Trâm đã nhận lại tài sản, không có đề nghị gì về dân sự do vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Xử lý vật chứng: Không

. Các vấn đề khác: Đối với 01 chiếc quần bò nữ mầu xanh đã qua sử dụng và 01 chiếc áo cọc tay mầu xanh đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo, tại phiên tòa bị cáo đề nghị không nhận lại cho tịc thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Thị T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Áp dụng các Điều 106, 135, 299, 326, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án.

Xử phạt bị cáo Trần Thị T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Ánh cho Ủy ban nhân dân phường Ngọc Thụy, quận Long Biên, Thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Về dân sự: Không

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm .

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo vắng mặt bị hại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ