vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 15/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Diễm Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Lê Thị Diễm Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lê Thị Diễm Q cho Ủy ban nhân dân phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ THỊ DIỄM Q - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Diễm Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
THỊ XÃ NGHI SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 15-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đắc Hưng

2. Ông Nguyễn Văn Tòng

- Thư ký phiên toà: Ông Phùng Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Duyến- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 01 năm 2024, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 133/2023/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị Diễm Q - Sinh ngày 25/9/2005, tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính; Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Công T - Sinh năm 1982 và con bà: Phạm Thị O - Sinh năm 1984;

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 29/5/2023 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Khắc Hải - Là Trợ giúp viên pháp lý của Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 7, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

* Người bị hại: Chị Nguyễn Thị H - Sinh năm 2005,

Địa chỉ: Tổ dân phố Trung Chính, phường Hải Hoà, thị xã Nghi Sơn;

* Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Thủy T – Sinh năm 2004

Địa chỉ: Tổ dân phố Thượng Hải, phường Hải Thanh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Nguyễn Duy H – Sinh năm 2004

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

3. Chị Trần Thị Nh – Sinh năm 2003

4. Anh Ngô Minh V - Sinh năm 2005

Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

5. Anh Lê Văn K – Sinh năm 2005

Địa chỉ: Thôn B, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

6. Chị Hoàng Thu H – Sinh năm 2005

Địa chỉ: Tổ dân phố Th, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

7. Chị Nguyễn Thị Yến Nh – Sinh năm: 2004

Địa chỉ: Thôn T, xã Tr, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa

Cả người bị hại và người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Diễm Qvà Nguyễn Thị H cùng học tại Trung tâm giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp thị xã Nghi Sơn.

Ngày 21/3/2023 lớp của Q và lớp H có tổ chức đánh bóng chuyền kỷ niệm ngày thành lập Đoàn. Trong quá trình cổ vũ cho các đội thi đấu thì giữa Q và H xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại, sau đó nhắn tin chửi bới, thách thức đánh nhau; cả hai hẹn đến thứ hai, ngày 27/3/2023 gặp nhau tại Trung tâm để giải quyết mâu thuẫn. Tối ngày 26/3/2023, Hồng gọi và nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị Nguyễn Thị Yến Nh; Trần Thị N và Nguyễn Duy H (là bạn trai của H) nhờ những người này tham gia cùng, cả ba đồng ý.

Đến khoảng 10 giờ 00 phút ngày 27/3/2023, sau khi tan học Q đi cùng các bạn trong lớp ra về, Q ngồi sau xe do Nguyễn Thị Thủy Tiên, điều khiển đi về hướng phường Bình Minh, thị xã Nghi Sơn. Thấy vậy, N điều khiển xe mô tô chở H ngồi giữa, Yến Nh ngồi sau đuổi theo. Khi đi đến nhà văn hóa tổ dân phố Yên Cầu, phường Bình Minh, thì xe mô tô do N điều khiển đuổi kịp xe chở Q. Thấy xe của H đi đến, Q nhảy xuống xe xông lại dùng tay xô H và Yến Nh ra khỏi xe và cầm 01 con dao rạch giấy trên tay phải rạch hai nhát liên tiếp vào mặt H, một nhát trúng vào vùng mắt trái làm rách da mi mắt trên và mi mắt dưới, rách da cánh mũi trái và một nhát trúng vùng phía sau hàm trái. Sau đó Q tiếp tục cầm dao dồn đánh H về phía bờ tường nhà văn hóa thì Yến Nh xông vào can ngăn liền bị Q rạch hai phát, một phát trúng vào vùng vai phải và một phát trúng vào vùng ngực phải. Lúc này, H điều khiển xe máy đến, thấy H đang bị đánh nên H1 chạy vào can ngăn và cầm mũ bảo hiểm, loại mũ thời trang đánh 02 phát về phía Q, trúng một phát vào vùng đầu đội mũ bỏ hiểm của Q. Bị H1 đánh thì Q thôi không xông vào đánh H nữa rồi đi về nhà bạn ở phường Hải Thanh chơi. Về phần H bị thương được H1 và Nh chở đến Bệnh viện đa khoa quốc tế Hợp lực điều trị; Nh bị thương nhẹ nên không đi điều trị tại cơ sở y tế nào.

Tại Bản kết luận giám định pháp y thương tích đối với Nguyễn Thị H số 628/KLTTCT-PYTH ngày 08/5/2023, Trung tâm pháp y Thanh Hóa xác định (BL: 171->173):“… tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị H tại thời điểm giám định là 12% (Mười hai phần trăm),...”

Kết luận khác:

- Tại vị trí vùng đầu mắt trái có vết thương, bờ mép sắc gọn, vết làm rách mi mắt trên, dưới: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm đầu trong mi trên và mi dưới mắt trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng:

+ Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu trong mi trên mắt trái.

+ Sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức đầu trong mi dưới mắt trái.

- Tại vị trí trước gò má trái đến đầu cánh mũi trái có vết xước da, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức cánh mũi trái.

- Tại vị trí trên gò má trái có vết biến đổi rối loạn sắc tố da màu tím: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật tày, hoặc vật tày có cạnh. Gây tổn thương xung huyết và xuất huyết mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn vết biến đổi rối loạn sắc tố da vùng đầu trong gò má trái.

- Tại vị trí vùng dưới, sau má trái có vết xước da, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách, xước lớp thượng bì của da; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt ngang mức ngành ngang xương hàm trái.

- Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.”

Qúa trình điều tra, Nguyễn Duy H1 giao nộp 01 đoạn Video ghi lại diễn biến vụ án. Tại Bản kết luận giám định dữ liệu điện tử số 4104/KL-KTHS, ngày 10 tháng 11 năm 2023, Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: “Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp Video của 01 (01) USB gửi giám định.”

Đối với hành vi của Lê Thị Diễm Q đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị Yến Nh, do bị thương tích nhẹ không phải điều trị tại cơ sở y tế nào nên Yên Nh từ chối giám định, Cơ quan điều tra đã tiến hành dẫn giải nhưng Yến Nh không chấp hành nên không có căn cứ xử lý Q về hành vi gây thương tích cho Yến Nh.

Đối với hành vi của Nguyễn Duy H1 sử dụng mũ bảo hiểm đánh Q trong khi Q đang dùng dao rạch giấy tấn công H, hành vi này có tính chất phòng vệ chính đáng nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm của Q đang diễn ra nên Lê Duy H1 không vi phạm pháp luật.

Đối với Nguyễn Thị H có hành vi lôi kéo người khác nhằm mục đích đánh Lê Thị Diễm Q, cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ vụ việc đến Công an thị xã Nghi Sơn xử lý hành chính theo quy định pháp luật.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với 01 con dao rạch giấy mà Lê Thị Diễm Q dùng để đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị H, Q khai sau khi mọi người can ngăn Q làm văng mất con dao trên và không biết ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả.

- Đối với chiếc USB lưu giữ đoạn Video ghi lại diễn biến vụ án do Nguyễn Duy Hòa giao nộp, sau khi giám định đã được đưa vào hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Diễm Q và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H với số tiền 15.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường và không yêu cầu gì thêm về dân sự.

Bản cáo trạng số 07/CT-VKSNS ngày 14/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Thị Diễm Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51 và Điều Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và 65 của Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Lê Thị Diễm Q.

- Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Thị Diễm Q từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Diễm Q và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H với số tiền 15.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường theo thỏa nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao rạch giấy mà Lê Thị Diễm Q dùng để đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị H, Q khai sau khi mọi người can ngăn Q làm văng mất con dao trên và không biết ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả nên đề nghị HĐXX không xem xét.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

*Quan điểm của ông Lê Khắc Hải – Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Diễm Q: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo cải tạo tại địa phương với mức án thấp nhất mà Viện Kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thị xã Nghi Sơn và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viêntrong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đến nay, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Công an thị xã Nghi Sơn và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo Lê Thị Diễm Q đã khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cũng như các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà hôm nay. Vì vậy có đủ căn cứ để khẳng định VKSND Thị xã Nghi Sơn truy tố bị cáo Lê Thị Diễm Q về tội "Cố ý gây thương tích" tội danh và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng.

Xét tính chất vụ án: Do có mâu thuẫn cá nhân nên vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 27/3/2023, Lê Thị Diễm Q đã có hành vi dùng dao rạch giấy, là hung khí nguy hiểm rạch vào vùng mặt gây thương tích cho chị Nguyễn Thị H. Hậu quả: Làm cho chị H bị thương tích, tổn thương cơ thể 12% tại thời điểm giám định.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo; Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình là sai trái và vi phạm pháp luật nên bị cáo cùng với gia đình đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, xin lỗi người bị hại, đồng thời thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền là 15 triệu đồng. Người bị hại đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận đến nay không có khiếu nại gì thêm. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Do bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Bị cáo có lai lịch rõ ràng, có nơi cư trú ổn định. Hơn nữa tại thời điểm xét xử bị cáo đủ 18 tuổi, nhưng tại thời điểm phạm tội bị cáo mới 17 tuổi 06 tháng 26 ngày, bản thân bị hại có lỗi với bị cáo. Cho đến nay phần dân sự trong vụ án đã được giải quyết song giữa bị hại và bị cáo không còn mâu thuẫn gì. Do đó HĐXX xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương là phù hợp với pháp luật và cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình, xã hội đồng thời cũng thể hiện tính khoan hồng của pháp luật mở đường cho bị cáo hướng tới tương lai để tu dưỡng rèn luyện mình sớm trở thành người công dân tốt.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 con dao rạch giấy mà Lê Thị Diễm Q dùng để đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị H, Q khai sau khi mọi người can ngăn Q làm văng mất con dao trên và không biết ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả nên HĐXX không xem xét.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Diễm Q và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H với số tiền 15.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường theo thỏa nên HĐXX không xem xét.

Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; Điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 90; Điều 91; Điều 98; Điều 101 và 65 Bộ luật Hình sự của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Thị Diễm Q.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Diễm Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Lê Thị Diễm Q 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Diễm Q cho Ủy ban nhân dân phường Hải Ninh, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa nơi bị cáo thường trú để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Vật chứng của vụ án: Đối với 01 con dao rạch giấy mà Lê Thị Diễm Q dùng để đánh gây thương tích cho Nguyễn Thị Hồng, Q khai sau khi mọi người can ngăn Q làm văng mất con dao trên và không biết ở đâu, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm nhưng không có kết quả nên HĐXX không xem xét.

Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị Diễm Q và gia đình đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị H với số tiền 15.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận tiền bồi thường theo thỏa nên HĐXX không xem xét.

Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Lê Thị Diễm Q phải chịu 200.000đ án phí HSST.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại tại phiên tòa. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân cấp xã ( phường) nơi người đó cư trú.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ