- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Văn L: Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 18-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thiện
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Huy Hiếu
Ông Nguyễn Văn Thông
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Lê Doãn Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai, trực tuyến xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2023/TLHS-ST ngày 06 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn L, sinh ngày 12 tháng 02 năm 1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: thợ hồ; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 9/12; con ông: Không rõ và bà Huỳnh Thị L1, sinh năm 1955; bị cáo có vợ là Trương Thị Kiều M, sinh năm 1992 (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2014; tiền sự: không;
Tiền án:
+ Ngày 04/5/2017, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 05/11/2018;
+ Ngày 29/9/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/5/2022;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2023, chuyển tạm giam ngày 28/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1984; địa chỉ: K T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn K, sinh năm 1979; địa chỉ: Khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
2. Ông Bùi T, sinh năm 1969; địa chỉ: Khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Huỳnh Văn L có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa hết thời hạn xóa án tích, sáng ngày 23/9/2023, Huỳnh Văn L đi bộ từ nhà tại thôn T, xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam đến cầu S thuộc khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam để xem người dân câu cá. Khoảng 11 giờ ngày 23/9/2023, L nhìn xuống bãi cát dưới cầu S thấy hai người dân đang vớt cát dưới sông lên bờ. L khát nước nên đi đến vị trí hai người vớt cát với mục đích xin nước để uống, khi đi đến gần bờ sông thì L phát hiện một thùng nước đá được để gần 02 xe mô tô, trong đó có 01 xe nhãn hiệu Dream không gắn biển kiểm soát của ông Nguyễn Văn H (sinh năm: 1984, trú: khối phố T, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) và một xe bên cạnh không rõ nhãn hiệu. Sau khi uống nước xong, L thấy trên xe mô tô nhãn hiệu Dream, không gắn biển kiểm soát của ông H có gắn sẵn chìa khóa trên ổ khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp xe này. Lợi quan sát thấy hai người dân đang tập trung vớt cát nên L bật chìa khóa xe và dùng chân đạp nổ máy xe, rồi điều khiển xe trộm cắp được đi lên đường bê tông, sau đó điều khiển xe đi về hướng khu Công nghiệp T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam rồi quay lại Ngã 3 K thuộc xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam ngồi uống cà phê. Khoảng 18 giờ ngày 23/9/2023, L điều khiển xe trộm cắp được về nhà cất giấu. Ngày 24/9/2023, L tiếp tục điều khiển xe mô tô đã trộm cắp được đi lại trên địa bàn xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Sáng ngày 25/9/2023, L điều khiển xe mô tô trộm cắp được đi đến cây xăng T1 thuộc phường T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam đổ xăng rồi điều khiển xe quay về xem người dân bắt cá ngoài đồng ruộng tại xã T, huyện P, tỉnh Quảng Nam. Trưa ngày 25/9/2023, L điều khiển xe mô tô trộm được đi trên đường bờ kè thuộc khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam thì gặp ông Nguyễn K (sinh năm 1979, trú: khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) là bạn của ông Nguyễn Văn H (là chủ xe) đang điều khiển xe đi ngược chiều, ông K phát hiện L điều khiển xe mô tô giống xe của ông H bị mất nên quay xe đuổi theo L. Thấy ông K đuổi theo nên L dừng xe lại, rút chìa khóa xe rồi bỏ xe lại chạy bộ xuống dưới bờ kè bỏ trốn. Ông K gọi điện thoại cho ông Bùi T (sinh năm 1969, trú: khối phố P, phường H, thành phố T, tỉnh Quảng Nam) nói ông T chạy tới và nhờ ông T gọi cho ông H chạy tới xem thử có phải xe mô tô của ông H bị mất không. Một lúc sau, ông T và ông H chạy đến, ông H xác nhận xe mô tô mà L bỏ lại là xe của ông H bị mất trộm vào ngày 23/9/2023. Ông H nhờ ông K điều khiển xe mô tô chở ông H chạy theo hướng L bỏ trốn. Trên đường đi, ông H phát hiện L đang trốn ở bãi đất trống dưới bờ kè, ông H xuống xe và chạy đuổi theo bắt giữ L lại và gọi điện báo Công an phường H đến làm việc.
Công an phường H đã đến hiện trường và lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật: 01 xe máy nhãn hiệu Dream số khung VHLPCG0021H1006922; số máy 1P50FMG-3 10555413 và chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố T để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 92/KL-HĐĐGTS ngày 26/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Dream số khung VHLPCG0021H1006922; số máy 1P50FMG-3 10555413 có giá trị 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng).
Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Dream số khung VHLPCG0021H1006922; số máy 1P50FMG-3 10555413 cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Văn H, ông H không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự
Cáo trạng số 127/CT-VKSTK-HS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố bị cáo Huỳnh Văn L về tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù.
Bị cáo không tranh luận, bị cáo nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, vật chứng thu giữ, các tài liệu chứng cứ đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T thu giữ chứng minh qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Huỳnh Văn L đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng vào ngày 23/9/2023, bị cáo L đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông Nguyễn Văn H 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Dream, số khung VHLPCG0021H1006922, số máy 1P50FMG-3 10555413, theo Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng.
Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Văn L đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" , tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: Quyền sở hữu tài sản của cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ, bị cáo Huỳnh Văn L là người có đủ năng lực nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm phạm luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn tại địa phương, do đó cần áp dụng loại hình phạt, mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục đồng thời ngăn ngừa chung cho xã hội.
Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo là lao động chính và còn nuôi con nhỏ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo tuy không có tiền sự nhưng đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích, do đó Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
Về áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự: Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.
Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của bị cáo là cố ý, tuy thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng bị cáo đang có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Nên Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự nên không giải quyết.
Xử lý vật chứng trong vụ án: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu
Dream, số khung VHLPCG0021H1006922, số máy 1P50FMG-3 10555413, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bị hại là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Huỳnh Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn L 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt (ngày 25/9/2023).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Huỳnh Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/01/2024) để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh, thành phố; - TAND tỉnh Quảng Nam; - Chi cục THADS thành phố; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Quốc Thiện |