vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 19/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Kha M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguy n Kha M m c án 01 (Một) năm 06 Sáu tháng tù. Thời hạn tù đư c tính kể từ ngày tạm gi , tạm giam từ ngày 19/04/2023). Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kha M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Kha M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ G
TỈNH KIÊN GIANG
____________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 19 - 01 - 2024.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ G - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ à Huỳnh Yến Trinh

2/ ng Trần Đ ng Khoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Ngọc Tu n – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: à Đoàn Thị T nh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 218/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 08 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguy n ha M, sinh n m 1983. Tại thành phố G, tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: T 10, p H, xã L, huyện T, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hu nh Văn L1 và bà Nguy n Thị ến T1; Chị, em ruột: có 03 người, lớn nh t sinh năm 1978, nh nh t 1990; V : Tr n Thị Tuyết N, sinh năm 1988 (Không có đăng ký kết hôn, không còn chung sống); Con: 01 người, sinh năm 2008.

Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị bắt tạm gi , tạm giam từ ngày 19/04/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào ch a cho bị cáo là Luật sư Bùi Thị T2- Văn phòng Luật sư Phạm Văn C thuộc Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang. (Có mặt)

- Người đại diện h p pháp cho bị cáo là bà Lê Thị Ngọc P, sinh ngày 01/01/1988. (Có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Số 184 đường P, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Ngƣ i bị hại: à Nguy n Thị Yến T3, sinh n m 1960 Có m t

HKTT: T 10, p H, xã L, huyện T, tỉnh Kiên Giang

Địa chỉ: Số 184 đường P, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

- Ngƣ i làm chứng:

1. Bà Trần Thị T4, sinh n m 1971 Vắng m t

Địa chỉ: Số 184 đường P, phường H, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

2. Ông Nguy n V n L1, sinh n m 1986 Vắng m t

Địa chỉ: Lô 93 ch S, phường L2, thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và di n biến tại phiên toà, nội dung vụ án đư c tóm tắt như sau: Vào khoảng 17 giờ 30 ngày 24/01/2022, Nguy n Kha M đến gặp m ruột là bà Nguy n Thị ến T3 tại số 184 đường Hu nh T n Phát, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang để h i mư n gi y tờ để làm lại gi y tờ tu thân, trước khi đến M có mang theo 01 cây dao (loại dao Thái Lan) trên dao có khắc ch “Đ O H O PH NG HN ” để phòng thân. Khi đến trước cửa nhà M lớn tiếng gọi bà T3 ra nói chuyện nhưng bà T3 không ra nên M b c t c chạy vào trong nhà chỗ bà T3 đang đ ng dùng dao Thái Lan đâm liên tiếp 02 nhát trúng vào vùng lưng c a bà T3 rồi M b đi. Sau đó, bà T3 đư c người thân đưa đi c p c u tại bệnh viện đa khoa Kiên Giang. Đến ngày 23/03/2022, Nguy n Kha M bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố G khởi tố và bắt tạm giam nhưng M b trốn. Đến ngày 19/04/2023, M bị bắt tạm gi , tạm giam theo quyết định truy nã để điều tra.

Bị cáo Nguy n Kha M đã khai nhận hành vi phạm tội c a bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa vẫn gi nguyên quan điểm truy tố hành vi c a các bị cáo Nguy n Kha M đ yếu tố c u thành tội “Cố ý gây thương tích”.

* Vật chứng trong vụ án:

- 01 (một) cây dao thái lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch “Đ O H O PH NG HN ” và ch “M”, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây dao Thái Lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch "N", đã qua sử dụng;

- 01 (một) đoạn camera ghi lại hình ảnh có liên quan đến vụ cố ý gây thương tích xảy ra ngày 24/01/2022, tại nhà số 184 đường Hu nh T n Phát, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đư c lưu trong đĩa DVD (lưu hồ sơvụ án), (bút lục 55-56).

* Tại kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số 112/TgT ngày 22/02/2022 c a Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích c a Nguy n Thị Yến T3:

1. D u hiệu chính qua giám định:

- S o vùng lưng trái, lưng phải và s o phẫu thuật;

Tràn khí, tràn máu màng ph i phải đã đư c phẫu thuật dẫn lưu khoang màng ph i. Hiện tại, còn tràn dịch màng ph i phải, đông đặc và dày dính thùy đáy ph i màng ph i phải.

2. Tỷ lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 23%.

3. Vật gây thương tích: Vật sắc nhọn, vật ch ng cây dao thái lan gửi giám định gây ra đư c các thương tích trên, (bút lụt số: 99 đến 101).

* Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 242/2023/ LGĐ ngày 14/7/2023 c a Trung tâm pháp y tâm th n khu vực Tây Nam Bộ, kết luận tình trạng tâm th n c a Nguy n Kha M:

- Về y học: Trước, trong, sau khi thực hiện hành vi cố ý gây thương tích ngày 24/01/2022) và hiện tại: rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rư u (F10.71-ICD10).

- Về năng lực: Tại thời điểm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích (ngày 24/01/2022) và hiện tại: đương sự hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi.

* Tại Công v n số 242.0/PYTT ngày 14/7/2023 c a Trung tâm pháp y tâm th n khu vực Tây Nam Bộ, xác định về trách nhiệm hình sự: tại thời điểm thực hiện hành vi cố ý gây thương tích (ngày 24/01/2022) và hiện tại: đương sự có năng lực trách nhiệm hình sự, (bút lục: 102 đến 104).

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận c a giám định pháp y về thương tích nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 236/CT-VKSRG, ngày 24 tháng 08 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguy n Kha M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a bị cáo phù h p với bản kết luận điều tra c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá và bản cáo trạng truy tố c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố G, tỉnh Kiên Giang vẫn gi nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguy n Kha M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, đề nghị:

Xử phạt: Bị cáo Nguy n Kha M m c án từ 01 (năm) đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Về h nh phạt b sung: Đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, tiêu h y công cụ dùng vào việc phạm tội c a bị cáo là:

- 01 (một) cây dao thái lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch “Đ O H O PH NG HN ” và ch “M”, đã qua sử dụng;

- 01 (một) cây dao Thái Lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch "N", đã qua sử dụng;

(Theo quyết định chuyển giao vật ch ng số 166/QĐ-VKS ngày 24/08/2023 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguy n Thị ến T3 yêu c u bị cáo bồi thường chi phí điều trị số tiền 5.000.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong, bị hại không yêu c u gì thêm, đề nghị không xem xét.

Luật sƣ ùi Thị T3 ngƣ i bào chữa cho bị cáo Nguy n ha M phát biểu quan điểm: Thống nh t về tội danh mà Viện Kiểm sát truy tố đối với bị cáo theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với m c án Viện Kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là hoàn toàn h p lý nhưng đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xem xét giảm nh thêm cho bị cáo, bỡi lẽ bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Trong vụ án này do bị cáo trình độ học v n th p, hiểu biết pháp luật còn hạn chế d dẫn đến hành vi phạm tội. Do đó, đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo M m c hình phạt nh nh t để cho bị cáo có cơ hội làm công dân tốt sống có ích cho xã hội.

L i nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của m nh sai trái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đư c tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều h p pháp.

Hội đồng xét xử xét th y, tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguy n Kha M đã khai nhận hành vi phạm tội c a mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội trên phù h p với lời khai c a bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, c a nh ng người tham gia tố tụng và phù h p với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 24/01/2022 tại 184 đường Hu nh T n Phát, phường Vĩnh Hiệp, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Nguy n Kha M đến gặp bà Nguy n Thị ến T3 để l y gi y tờ tu thân nhưng khi đến nơi gọi bà T3 không trả lòi nên M đã dùng dao (loại dao Thái Lan) đâm 02 nhát trúng vào vùng lưng c a bà T3 gây thương tích. Qua kết qua giám định thương tích, tỷ lệ t n thương cơ thể là 23%).

Từ nh ng ch ng c đã nêu trên, có đ cơ sở để kết luận hành vi c a bị cáo Nguy n Kha M về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự như kết luận c a Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là có căn c , đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét về hành vi phạm tội c a các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện tội phạm có ý th c và có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo cũng nhận th c đư c rằng tính mạng, s c kh e con người là vốn quý, luôn đư c pháp luật tôn trọng và bảo vệ, b t k ai xâm phạm trái phép đều bị xử lý nghiêm M. Mặt khác, gi a bị cáo và bị hại không có xảy ra mâu thuẫn gì trước đó nhưng bị cáo thể hiện tính hung hăn, côn đồ c a mình đã dùng dao (loại dao Thái Lan (là loại hung khí nguy hiểm) đâm 02 nhát trúng vào người bị hại gây thương tích cho bị hại. Hành vi phạm tội c a bị cáo trực tiếp xâm phạm trái phép đến s c kh e c a các bị hại, thể hiện sự xem thường tính mạng s c kh e c a người khác, xem thường pháp luật, từ hành vi này c a bị cáo còn ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống c a bị hại, gây dư luận xôn xao và b t bình trong qu n chúng nhân dân làm tăng thêm sự ph c tạp về tình hình trật tự trị an địa phương.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Về tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền cho bị hại nên các bị cáo đư c hưởng tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại có đơn xin giảm nh hình phạt cho bị cáo và tại phiên toà bị hại cũng tha thiết xin giảm nh hình phạt cho bị cáo nên hội đồng xét xử thống nh t cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối chiếu quy định c a Bộ luật Hình sự cho th y các bị cáo đ điều kiện áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự nên Hội thồng xét xử quyết định cho bị cáo hưởng một m c án dưới m c th p nh t c a khung hình phạt là phù h p quy định pháp luật.

Đối với Kết luận giám định pháp y tâm th n số 242 ngày 14/07/2023 c a trung tâm giám định pháp y khu vực Tây Nam Bộ xác định thời điểm thực hiện hành vi bị cáo đã hạn chế khả năng nhận th c và điều khiển hành vi, rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng rư u, không phải do bệnh gây ra nên không đư c xem xét là tình tiết giảm nh cho bị cáo.

Qua xem xét, đánh giá tính ch t, m c độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nh trách nhiệm hình sự, yêu c u c a bị hại xin giảm nh hình phạt đối với bị cáo; Do đó, Hội đồng xét xử thống nh t xử phạt bị cáo m c án tương x ng bằng hình phạt tù có thời hạn, giam gi bị cáo trong thời gian nh t định để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành một công dân tốt, sống có ích cho xã hội.

Về hình phạt b sung: Theo các tài liệu, ch ng c và lời khai c a các bị cáo tại phiên tòa đều cho th y bị cáo không có thu nhập n định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật ch ng: Căn c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu h y công cụ dùng vào việc phạm tội và liên quan đến việc phạm tội c a các bị cáo là: 01 (một) cây dao thái lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch “Đ O H O PH NG HN ” và ch “M”, đã qua sử dụng; 01 (một) cây dao Thái Lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch "N", đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguy n Thị ến T3 đã nhận đ số tiền bồi thường thiệt hại từ bị cáo, không yêu c u gì thêm nên không xem xét.

Xét đề nghị c a Viện kiểm sát đề nghị tại bản luận tội đối với bị cáo là phù h p nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Xét đề nghị c a luật sư Bùi Thị Thi người bào ch a cho bị cáo M là có căn c , đúng pháp luật nên đư c ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguy n Kha M phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguy n Kha M m c án 01 (Một) năm 06 Sáu tháng tù. Thời hạn tù đư c tính kể từ ngày tạm gi , tạm giam từ ngày 19/04/2023).

Về xử lý vật chứng: Căn c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu h y công cụ dùng vào việc phạm tội và liên quan đến việc phạm tội c a các bị cáo là: 01 (một) cây dao thái lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch “Đ O H O PH NG HN ” và ch “M”, đã qua sử dụng; 01 (một) cây dao Thái Lan dài 21 cm, lưỡi bằng kim loại, cán bằng nhựa màu vàng có khắc ch "N", đã qua sử dụng.

(Theo quyết định chuyển giao vật ch ng số 166/QĐ-VKS ngày 24/08/2023 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố G)

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo Nguy n Kha M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng Hai trăm nghìn đồng).

Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/01/2024). Người đại đại diện h p pháp c a bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đư c bản án hoặc bản án đư c niêm yết tống đạt h p lệ. * Nơi nhận:

Cỡ chữ