vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 24/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đồng Q 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
TỈNH AN GIANG
Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày 24 tháng 01 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hùng Bích - Bà Phan Thị Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Đức Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 163/2023/TLST-HS, ngày 13 tháng 12 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2023/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đồng Q, sinh năm 1978 tại L, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: Tổ 2, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên Chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn: Không; Con ông: Nguyễn Đồng H và bà Phan Thị Thu B; Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1980, có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 31/5/1998 bị Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; Ngày 29/11/2013 bị Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng về hành vi ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu người có công nuôi dưỡng mình; Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của công dân; Gây rối trật tự công cộng; Ngày 06/11/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên đưa vào Trường giáo dưỡng 24 tháng; ngày 14/02/2020 bị Ủy ban nhân dân thành phố Long Xuyên xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 8 năm 2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Em Nguyễn Đồng Quy N, sinh năm 2004. Nơi cư trú hiện nay: Tổ B khóm T, phường M, Tp L, tỉnh An Giang. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Đồng H, sinh năm 1954. Nơi cư trú: Khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: Tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

2. Bà Phan Thị Thu B, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Khóm F, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Nơi ở hiện nay: Tổ B, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2023 sau khi uống rượu Nguyễn Đồng Q về nhà tại tổ B, khóm Đ, phường M, thành phố L thì bị ông Nguyễn Đồng H là cha của Q la rầy nên Q lớn tiếng cãi lại ông H. Lúc này Nguyễn Đồng Quy N là con của Q ở trong phòng riêng đập cây đàn ghi ta của N và nói tại sao Q thường xuyên uống rượu quậy phá thì Q lấy cây len dài 1,17m, lưỡi bằng kim loại, cán gỗ phá khóa cửa xông vào phòng đánh nhiều cái vào tay trái, chân trái của N gây thương tích thì được bà Phan Thị Thu B (mẹ ruột Q) can ngăn nên Q dừng lại. Sau đó, N được đưa đến Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang cấp cứu, điều trị đến ngày 16 tháng 01 năm 2023 xuất viện.

* Vật chứng thu giữ: 01 cây len dài 1,17m, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ.

* Kết luận Giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 539/23/KLTTCT-TTPY, ngày 30 tháng 7 năm 2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh An Giang đối với Nguyễn Đồng Quy N, sinh năm 2004 xác định: Dấu hiệu chính qua giám định.

- Chấn thương khuỷu tay trái, gây gãy mỏm khủyu trái, đã phẫu thuật kết hợp xương (sẹo mổ mặt sau khuỷu tay trái đến mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái kích thước (11,5 x 1,5)cm. Tỷ lệ 09%.

- Sẹo mặt trong bàn chân trái phía ngón I đứng dọc kích thước (2,5 x 03)cm, sẹo lồi, sậm màu: tỷ lệ 01%.

- Sẹo mặt lưng bàn chân trái phía ngón I nằm ngang kích thước (01 x 0,2)cm, sẹo lồi, sậm màu. Gây gãy xương đốt bàn ngón I bàn chân trái, điều trị bảo tồn: tỷ lệ 06%.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 15%.

Tại Cáo trạng số: 02/CT-VKSLX-HS, ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố Nguyễn Đồng Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Đồng Q khai nhận đã thực hiện hành vi dùng len đánh Nguyễn Đồng Quy N gây thương tích như nội dung vụ án đã nêu. Quy đã chi 3.000.000 đồng thanh toán chi phí điều trị cho bị hại.

Quá trình tố tụng em Nguyễn Đồng Quy N, ông Nguyễn Đồng H, bà Phan Thị Thu B trình bày như nội dung vụ đã nêu. Bị hại Nguyễn Đồng Quy N yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Nguyễn Đồng Q.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đồng Q từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không đề nghị xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, đề nghị: Tịch thi tiêu hủy 01 cây len dài 1,17m, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ.

Bị cáo Nguyễn Đồng Q thống nhất ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, khung hình phạt và đề nghị mức hình phạt. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa, ăn năn về hành vi vi phạm, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

. Về tố tụng:

. Đối với các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng quy định pháp luật. Quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không kêu oan, không khiếu nại, không có ý kiến về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa ông Nguyễn Đồng H là người liên quan vắng mặt. Xét thấy, quá trình điều tra ông H đã cung cấp lời khai phù hợp nội dung vụ án và các tài liệu, chứng cứ, vật chứng thu thập được nên sự vắng mặt của ông H không gây trở ngại đến việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án theo thủ tục chung.

. Về nội dung: Quá trình điều tra bị cáo Q khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm cùng các tang vật, vật chứng đã thu giữ và tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ được thu thập khách quan, đúng pháp luật. Do đó, có đủ căn cứ kết luận khoảng 21 giờ ngày 07 tháng 01 năm 2023 tại nhà chung của ông H, bị cáo và bị hại. Bị cáo Q đã thực hiện hành vi dùng len là hung khí nguy hiểm đánh nhiều cái vào tay trái, chân trái của Quy N, hậu quả làm em N bị gãy mỏm khuỷu trái, gãy xương đốt bàn ngón I bàn chân trái, thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 15%. Hành vi nêu trên của bị cáo Q đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xét thấy, chỉ vì duyên cớ nhỏ nhặt nhưng bị cáo dùng len là hung khí nguy hiểm phá khóa cửa phòng riêng của N đánh nhiều cái vào tay, chân của N. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” là tình tiết định khung quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của con người, đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, sứt mẻ tình cảm gia đình, gây mất trật tự trị an, dư luận lên án, phê phán.

. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, xét thấy hành vi phạm tội bị cáo thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng, xét mối quan hệ giữa bị cáo, bị hại và người liên quan trong vụ án là người thân trong gia đình có quan hệ huyết thống. Bị cáo là con của ông H, bà B; là cha của Quy N. Lẽ ra khi ông H la rầy bị cáo về việc uống rượu, bị cáo phải biết kiềm chế, nhưng vì hung hăng dẫn đến việc bị cáo hành xử không đúng quy định pháp luật, không phù hợp đạo đức xã hội, gây tổn thương cơ thể cho bị hại là con của bị cáo. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng mới có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa. Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, do đó, việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù có thời hạn là cần thiết.

. Về nhân thân bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xét thấy, tuy bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nhiều lần bị đưa vào trường giáo dưỡng về hành vi gây rối trật tự công cộng, ngược đãi là có nhân thân xấu. Tuy nhiên, có xem xét bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo để phụ tiếp lo kinh tế gia đình, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, có căn cứ chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và hậu quả bị cáo gây ra.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận 3.000.000 đồng bị cáo bồi thường, không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về vật chứng: Đối với 01 cây len dài 1,17m, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

. Về các vấn đề khác: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đồng Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đồng Q 01 (một) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây len dài 1,17m, lưỡi bằng kim loại, cán bằng gỗ (đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/12/2023).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:

Bị cáo Nguyễn Đồng Q, bị hại Nguyễn Đồng Quy N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Thu B có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đồng H vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7; Điều 7a; 7b Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ