vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Có áp dụng án lệ Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ, phạm tội “Giết người”.

X phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 27 tháng 01 năm 2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh Đ - Giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ, phạm tội “Giết người”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật H nh sự; Điều 123 Bộ luật H nh sự; Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày 29-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Kim Trường

Thẩm phán:

Ông Nguyễn Mạnh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân :

Ông Quách Minh Nhiên

Ông Nguyễn Trần Phương

Bà Phan Thị Bích

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hường - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thăng Long - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 29 tháng 01 năm 2024, tại tr s Tòa án nhân dân tỉnh Hòa B nh, xét x sơ th m công khai v án h nh sự sơ th m th lý số: 04/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa v án ra xét x số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạnh Đ, sinh ngày 11 tháng 11 năm 2000 tại Hòa Bình

Nơi cư trú: xóm Tk, xã HB, TP HB, tỉnh Hòa B nh; nghề nghiệp: Lao động tự do; tr nh độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1973 và bà Hà Thị H1, sinh năm 1975; Vợ, con: Không.

Tiền sự: Không.

Tiền án: 01 tiền án.

Bản án số 20/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố HB, tỉnh Hòa B nh tuyên phạt bị cáo 4 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 06/9/2022, Nguyễn Mạnh Đ chấp hành xong h nh án phạt tù theo giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số 641/GCN của Trại giam Suối Hai - C c C10

- Bộ Công an.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 01 năm 2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa B nh - có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh Đ: Luật sư Trần Thị Oanh – Văn phòng luật sư Hồng Thúy thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Hòa B nh. – Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973; Trú tại: xóm Tk, xã HB, thành phố HB, tỉnh Hòa Bình. – vắng mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị H1, sinh năm 1975; Trú tại: xóm Tk, xã HB, thành phố HB, tỉnh Hòa B nh. Có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Tuấn H1, sinh năm 1996; Trú tại: Tổ dân phố Yên Thần, thị trấn Thanh Lãng, huyện B nh Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

+ Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1994.

+ Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1997.

Đều trú tại: xóm Tk, xã HB, thành phố HB, tỉnh Hòa B nh.

Chị H1 có mặt, anh H1 và chị H1 có đơn xin xét x vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Mạnh Đ sinh năm 2000 cùng chung sống với bố mẹ đẻ là ông Nguyễn Văn H sinh năm 1973 và bà Hà Thị H1 sinh năm 1975 tại nhà thuộc xóm Tk, xã HB, thành phố HB, tỉnh Hòa B nh, Đ và ông H có công việc chính là lái tàu ch khách du lịch lòng hồ Hòa B nh.

Vào khoảng 13 giờ ngày 27/01/2023, ông H và Đ cùng nhau lái thuyền của gia đ nh ch khách đi du lịch Đền Thác Bờ lòng hồ Hòa B nh, khi thuyền đang ch khách quay về bến cảng Bích Hạ th giữa ông H và Đ xảy ra mâu thuẫn cãi ch i nhau trong việc thu tiền của khách du lịch, trong lúc hai bên lời qua tiếng lại với nhau, ông H dùng tay tát vào mặt Đ 1 - 2 cái, sau đó ông H cầm điều cày và dao gọt hoa quả để đuổi đánh Đ nhưng được mọi người can ngăn nên cả hai dừng lại. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, khi thuyền cập bến cảng Bích Hạ th Đ rời khỏi thuyền một m nh đi về nhà tại xóm Tk, xã HB, thành phố HB, khi về đến nhà Đ đi lấy quần áo, đồ dùng cá nhân để đi khỏi nhà, trong quá trình đó Đ có xuống bếp và lấy 01 chiếc búa đinh, có chiều dài là 23,5cm (phần cán gỗ dài 21,5cm, đầu búa đinh được làm bằng kim loại kích thước (8x1) cm, một đầu là mặt phẳng, một đầu nhọn có h nh chữ “V”. Sau đó, Đ giấu chiếc búa đinh trong túi áo khoác trước ngực và rời khỏi nhà (Chiếc búa đinh do Đ mua ngoài chợ từ trước và mang theo người để phòng thân).

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Đ quay về nhà để lấy thêm quần áo, đồ dùng cá nhân, khi Đ vừa đi đến c a nhà th gặp ông H đi về. Thấy Đ nhà, ông H tiếp t c ch i Đ, lúc này có bà H1 là vợ ông H mẹ của Đ cùng với con gái là Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Thị Thu H1 chạy ra can ngăn, nhưng ông H vẫn ch i Đ, thấy vậy Đ đi vòng ra phía sau lưng ông H và đứng cạnh phía vai phải của ông H, tay phải Đ rút từ trong túi áo khoác ra chiếc búa đinh có sẵn trong người rồi vung búa lên đập liên tiếp 03 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng thẳng vào vùng đầu của ông H khiến ông H ngã g c xuống sân, bà H1 và những người có mặt hô hoán lên và đỡ ông H dậy đưa đi cấp cứu còn Nguyễn Mạnh Đ bỏ búa xuống sau đó bị Cơ quan Công an bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích 28/KL-KTHS ngày 03/02/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh Hòa Bình. Kết luận:

“1. Dấu hiệu chính qua giám định

- Vỡ lún xương sọ vùng đỉnh

- Các vết sẹo vùng đầu

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 20% (Hai mươi phần trăm).

3. Đặc điểm vật gây thương tích: Vật tày.”

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ và mẹ đẻ là Hà Thị H1 đã bồi thường, khắc ph c hậu quả số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) cho bị hại là ông Nguyễn Văn H. Ông H không có yêu cầu, đề nghị g khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự cho Đ.

Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS-P2 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B nh truy tố Nguyễn Mạnh Đ về tội Giết người, theo quy định tại điểm đ, p khoản 1, Điều 123 Bộ luật H nh sự 2015.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B nh giữ quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạnh Đ về tội giết người, xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nhân thân của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét x :

Căn cứ điểm đ, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 điều 51, Điều 15, Điều 57, Điều 38 Bộ luật H nh sự năm 2015. X phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ từ 10 đến 11 năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 27/01/2023.

Trách nhiệm dân sự: Mẹ bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng. Bị hại có đơn không yêu cầu g thêm về bồi thường thiệt hại nên đề nghị không xem xét.

Về vật chứng đề nghị x lý theo quy định.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Mạnh Đ trình bày: Nhất trí với đại diện viện kiểm sát về diễn biến hành vi phạm tội cũng như các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự đã áp d ng cho bị cáo như: Bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo và gia đ nh đã tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo, bản thân bị hại cũng có một phần lỗi dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là các t nh tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật H nh sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét x x phạt bị cáo mức án từ 09 đến 10 năm tù.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Mạnh Đ khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo đồng ý với ý kiến của người bào chữa, đề nghị Hội đồng xét x xem xét cho bị cáo được hư ng h nh phạt nhẹ nhất để bị cáo sớm tr về với gia đ nh và xã hội.

Người có quyền lợi nghĩa v liên quan không có ý kiến tranh luận, đề nghị giảm nhẹ h nh phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và quá trình thẩm tra tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá tr nh điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, tr nh tự, thủ t c theo quy định của Bộ luật Tố t ng h nh sự. Quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ th m, bị cáo Nguyễn Mạnh Đ khai nhận hành vi phạm tội của m nh. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá tr nh điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. Như vậy, có đủ cơ s để kết luận: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ có mâu thuẫn với bố đẻ là ông Nguyễn Văn H từ chiều ngày 27/01/2023 nên đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ quay về nhà lấy thêm quần áo, đồ dùng cá nhân thì ông H tiếp t c ch i Đ, lúc này có bà H1 và hai chị Nguyễn Thị Thu H1 và Nguyễn Thị Thu H1 can ngăn nhưng ông H vẫn ch i rủa Đ, thấy vậy Đ đã đi vòng ra phía sau lưng bên vai phải ông H rút chiếc búa đinh từ trong túi áo khoác của m nh đập liên tiếp 03 nhát theo hướng từ trên xuống dưới trúng thẳng vào vùng đầu của ông H khiến ông H ngã g c xuống sân, sau đó ông H được mọi người đưa đi cấp cứu kịp thời. Hậu quả ông Nguyễn Văn H bị thương tích 20% (hai mươi phần trăm).

Mặc dù bị cáo không khai nhận m c đích giết người, xong bị cáo cũng khai nhận thức được việc dùng búa đinh đánh đập nhiều nhát vào vùng đỉnh đầu có thể nguy hiểm đến tính mạng. Hội đồng xét x xét thấy, hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ dùng búa đinh là hung khí nguy hiểm đánh nhiều nhát vào vùng đỉnh đầu của của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm nhằm tước đoạt tính mạng của bị hại, việc ông H không chết là nằm ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo.

Mặt khác, t nh huống pháp lý nêu trên của v án tương tự với t nh huống pháp lý của v án trong Án lệ số 47/2021/AL được Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 và được công bố theo Quyết định số 594/QĐ-CA ngày 31/12/2021 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Đó là “Bị cáo dùng dao là hung khí nguy hiểm đâm vào vùng bụng của bị hại là vùng trọng yếu của cơ thể con người. Bị hại không chết là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Trường hợp này, Tòa án phải xác định bị cáo chịu trách nhiệm hình sự về tội Giết người”.

Qua phân tích trên, xét thấy hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh Đ có đủ yếu tố cấu thành tội Giết người theo Án lệ số 47/2021/AL. Bị hại là bố đẻ của bị cáo nên bị cáo đã phạm vào t nh tiết định khung tăng nặng được quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 123 BLHS. Mặt khác, bản án số 20/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hòa B nh, tỉnh Hòa B nh tuyên phạt bị cáo Đ 4 năm tù giam về tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 BLHS. V vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, là t nh tiết tăng nặng định khung quy định tại điểm p khoản 1 Điều 123 BLHS. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa B nh truy tố bị cáo về tội Giết người theo quy định tại điểm đ, p khoản 1 Điều 123 Bộ luật H nh sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng đối với hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Đ Mạnh là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm h nh sự, bị cáo nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm (búa đinh) đập nhiều nhát vào vùng đỉnh đầu – là vùng trọng yếu trên cơ thể của ông Nguyễn Văn H, có thể dẫn đến chết người. Nhưng do xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân với ông H, không kiềm chế được bản thân nên bị cáo Nguyễn Đ Mạnh đã cố ý thực hiện tội phạm.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng và sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội. Do đó cần phải có h nh phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, răn đe bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên Hội đồng xét x cũng xem xét nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo là do bị hại có lỗi trước, hậu quả chết người chưa xảy ra, phạm tội chưa đạt, Hội đồng xét x sẽ xem xét khi lượng h nh.

. Về t nh tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự của bị cáo.

- T nh tiết tăng nặng trách nhiệm h nh sự: Không có

- Về t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự: Trong quá tr nh điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động với gia đ nh tích cực bồi thường khắc ph c hậu quả cho bị hại; sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự cho bị cáo. Đây là các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự, Hội đồng xét x sẽ xem xét cho bị cáo khi lượng h nh. Ngoài ra, trong v án này hậu quả chết người không xảy ra, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét x áp d ng Điều 57 Bộ luật H nh sự khi quyết định h nh phạt đối với bị cáo.

Qua xem xét khách quan, toàn diện v án, động cơ, m c đích phạm tội; các t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét x thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt, có 02 t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 và nhiều t nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm h nh sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật H nh sự nên Hội đồng xét x áp d ng khoản 1 Điều 54 Bộ luật H nh sự để x phạt bị cáo mức h nh phạt dưới mức thấp nhất của khung h nh phạt được quy định tại khoản 1 Điều 123 Bộ luật H nh sự.

Xét lời bào chữa của Luật sư cho bị cáo có căn cứ, Hội đồng xét x sẽ xem xét cho bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá tr nh giải quyết v án, bị cáo Nguyễn Mạnh Đ đã tác động mẹ đẻ là bà Hà Thị H1 bồi thường cho bị hại số tiền 50.000.000đ, ông H không yêu cầu Đ phải tiếp t c bồi thường. Tại phiên tòa bà Hà Thị H1 không yêu cầu bị cáo Đ phải H lại số tiền bà đã bồi thường thay. Trong quá tr nh giải quyết và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa v liên quan không yêu cầu Tòa án giải quyết phần trách nhiệm dân sự nên Hội đồng xét x không xem xét.

Về vật chứng: 01 (Một) chiếc búa đinh, có tổng chiều dài là 23,5cm, phần cán cầm được làm bằng gỗ dài 21,5cm, đầu búa đinh được làm bằng kim loại kích thước (8x1) cm, một đầu là mặt phẳng, một đầu nhọn có h nh chữ “V” đã qua s d ng, cần tịch thu xuất hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ phải chịu án phí h nh sự sơ th m theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ, phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm đ, p khoản 1 Điều 123; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15, Điều 57, Điều 54, Điều 38 Bộ luật H nh sự.

X phạt bị cáo Nguyễn Mạnh Đ 10 (Mười) năm tù, thời hạn chấp hành h nh phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 27 tháng 01 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật H nh sự và Điều 106 Bộ luật tố t ng h nh sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa được đựng trong 01 (Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Một mặt đề: “Bộ Công an; Viện khoa học h nh sự; Kính g i: (01 chiếc búa) v án: Nguyễn Mạnh Đ – Phạm tội: Giết người”. Trên mép dán có dấu tròn đỏ niêm phong của Viện Khoa Học h nh sự Bộ Công an và chữ ký thành phần tham gia niêm phong.

(Chi tiết vật chứng được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 10/BB – GNVC ngày 18 tháng 12 năm 2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh Hòa Bình và Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố t ng h nh sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và s d ng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Mạnh Đ phải nộp 200.000 (hai trăm ngh n đồng) án phí h nh sự sơ th m.

4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa v liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ