vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 30/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải B phạm “Tội giết người”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải B 17 (mười bảy) năm tù; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hải B - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự và xử phạt; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày 30-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông

Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tỉnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Chăm

Bà Nguyễn Thị Kiều Oanh

Bà Đỗ Thị Huệ Anh

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Trung Tín - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Phương Kha - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 53/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 243/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre, đối với bị cáo:

Nguyễn Hải B, sinh năm 1999 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số H, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: lớp 9/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Phú H và bà Phan Thị Mỹ H1; vợ: Dương Thị Thanh H2, sinh năm 2002; con: có 01 người con, sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 24/7/2023, đến ngày 27/7/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Nhật N là Luật sư - Văn phòng luật sư Nguyễn Hữu D thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Đỗ Nhật T (đã chết);

1. Ông Đỗ Văn H3 (cha bị hại), sinh năm 1970; nơi cư trú: Số B ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Kim P (mẹ bị hại), sinh năm 1971; nơi cư trú: Số B ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre - ủy quyền cho ông Đỗ Văn H3 tham gia tố tụng.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Vinh Q, sinh năm 2004; nơi cư trú: Số A Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

- Đại diện gia đình bị cáo: Ông Nguyễn Phú H, sinh năm 1977; nơi cư trú: Số H, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Dương Thị Thanh H2, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số H, ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

2. Anh Nguyễn Văn Tuấn A, sinh năm 1999; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; có mặt.

3. Chị Lê Trần Ngọc H4, sinh ngày 26/6/2006; nơi cư trú: Số H Khu phố C, Phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

4. Anh Lê Công M, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số B Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Thành P1, sinh ngày 18/3/2007; nơi cư trú: Số D ấp H, xã H, huyện C, tỉnh Bến Tre; có mặt.

6. Anh Đoàn Nguyễn Hoàng P2, sinh năm 2004; nơi cư trú: ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

7. Chị Nguyễn Trần Bảo C, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số B ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

8. Anh Nguyễn Quốc T1, sinh năm 2005; nơi cư trú: Số D ấp B, xã B, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

9. Chị Huỳnh Thục N1, sinh năm 2003; nơi cư trú: Số A Khu phố C, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

10. Anh Lê Thành T2, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số B khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

11. Ông Trần Quốc V, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số B N, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

12. Chị Nguyễn Thị Anh T3, sinh ngày 26/9/2008. Người giám hộ cho chị Nguyễn Thị Anh T3 là bà Hồ Thị Châu Y, sinh năm 1977 (mẹ ruột của chị T3); cùng cư trú: Số C ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

13. Anh Võ Trần Hoàng N2, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số B ấp N, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

14. Anh Trần Hoàng T4, sinh năm 2001; nơi cư trú: Số D Ấp C, xã N, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

15. Ông Nguyễn Hoàng T5, sinh năm 1991; nơi cư trú: ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre; vắng mặt.

16. Anh Tất Gia B1, sinh năm 2002; nơi cư trú: Số A Ấp A, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 23/7/2023, Nguyễn Hải B đến quán “Ốc Hẻm” thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 (em gái B). Tại đây, tham dự tiệc sinh nhật còn có ông Nguyễn Phú H (cha Bằng), bà Phan Thị Mỹ H1 (mẹ B), Dương Thị Thanh H2 (vợ B), Lê Vinh Q, Nguyễn Văn Tuấn A, Lê Trần Ngọc H4, Lê Công M, Nguyễn Thành P1, Nguyễn Quốc T1, Huỳnh Thục N1, Nguyễn Thị Anh T3 cùng nhiều người khác. Trong lúc dự tiệc, Nguyễn Thị Anh T3 uống rượu có dấu hiệu say xỉn. Đến khoảng gần 22 giờ cùng ngày, Đỗ Nhật T (bạn của Nguyễn Thị Anh T3), cùng Võ Trần Hoàng N2, Trần Hoàng T4, Tất Gia B1, Nguyễn Hoàng T5 đi xe mô tô đến quán “Ốc Hẻm” để rước Nguyễn Thị Anh T3. Khi đến quán, Đỗ Nhật T và Võ Trần Hoàng N2 bước vào phía bàn tiệc để gọi Nguyễn Thị Anh T3 về thì Nguyễn Hải B lên tiếng ngăn không cho nhóm Đỗ Nhật T rước và yêu cầu người nhà của Nguyễn Thị Anh T3 đến rước mới cho về. Lúc này, Võ Trần Hoàng N2 có nói qua lại với nhóm của Nguyễn Hải B, Lê Vinh Q đứng dậy lấy dao bấm có sẵn trong túi quần ra cầm trên tay cùng Nguyễn Văn T7 A xông đến và rượt đuổi Võ Trần Hoàng N2 chạy trên đường N hướng ra bến phà H cũ. Đồng thời cùng lúc, Nguyễn Hải B lấy con dao xếp có cán bằng kim loại màu đen, trên cán dao có chữ "Thanh Hương" trong túi quần cầm trên tay phải xông đến Đỗ Nhật T, Nguyễn Hải B bị Đỗ Nhật T đánh trúng phía sau cổ nên dùng dao xếp đang cầm trên tay đâm một nhát vào khu vực vùng ngực bên trái của Đỗ Nhật T rồi rút dao ra bỏ vào túi quần. Sau đó, mọi người can ngăn và đưa Đỗ Nhật T đi cấp cứu tại bệnh viện N3 - tỉnh Bến Tre đến khoảng 06 giờ 30 phút ngày 24/7/2023 thì tử vong.

Riêng đối với Nguyễn Hải B được ông Nguyễn Phú H chở về nhà ở ấp P, xã P, thành phố B, tỉnh Bến Tre sau đó đi đến nhà của Lê Thành T2 (ở Số B, khu phố B, Phường F, thành phố B, tỉnh Bến Tre). Tại đây, Nguyễn Hải B đưa con dao xếp cho vợ là Dương Thị Thanh H2 nói cho Thanh H2 biết đã đâm người khác, rồi do say rượu nên Nguyễn Hải B nằm ngủ. Nhóm bạn của B là Lê Vinh Q, Lê Trần Ngọc H4, Lê Thành T2, Lê Công M kêu Bằng dậy, chở B đến quán B2 ở ấp P, xã P, thành phố B để tìm gặp chủ quán là ông Trần Quốc V nhờ giúp đỡ vì sợ bị nhóm bên kia tìm trả thù. Ông V từ chối nên cả nhóm đi về, Nguyễn Hải B bắt xe đi Thành phố Hồ Chí Minh đến trưa hôm sau gia đình liên lạc thông báo bị hại Đỗ Nhật T đã tử vong nên trở về đầu thú.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) con dao xếp có cán bằng kim loại màu đen, trên cán dao có chữ "Thanh Hương", phần cán dao dài 14,5cm do ông Lê Thành T2 giao nộp theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật hồi 14 giờ 30 ngày 24 tháng 7 năm 2023.

- 01 (một) con dao bấm bằng kim loại màu đen, dao dài 24,2cm, lưỡi dao dài 11 cm, dao có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, trên cán dao có hình con bò cạp, trên thân dao có một nút dùng để bấm dao ra và một nút dùng để khóa dao, do ông Lê Vinh Q giao nộp;

- 01 (một) đĩa DVD lưu trữ file dữ liệu điện tử "VIDEO_169277.mp4", dung lượng 51.701 KB trích xuất từ camera hiệu "EZVIZ" lắp đặt tại hiện trường vụ án do bà Nguyễn Thanh T8 (chủ quán "Ốc Hẻm") giao nộp theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 25 tháng 7 năm 2023 (kèm theo hồ sơ vụ án).

- 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen nhãn hiệu "OPPO", số IMEI "866314059174712", có gắn sim 0857174119 do ông Lê Vinh Q giao nộp theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật hồi 15 giờ 30 ngày 24 tháng 7 năm 2023.

- 01 (một) quần dài màu đen, hai bên quần có hai túi, bên trong lưng quần bên trái có chữ "HT-Fashion"; 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, bên trong cổ áo có chữ "Mr- KEN men Collection" do bà Nguyễn Thị Thanh H5 giao nộp theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật hồi 16 giờ 30 ngày 25 tháng 7 năm 2023.

- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen, phía trước ngực áo có nhiều dòng chữ có nhiều màu, trên cổ áo có chữ "DSQUARED2"; 01 (một) quần vải jeans, màu đen, có nhiều vết rách, ở lưng quần có chữ "DSQUARED2" do ông Lê Vinh Q giao nộp theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật hồi 14 giờ 00 ngày 25 tháng 7 năm 2023.

- 01 (một) đĩa DVD lưu trữ 05 file dữ liệu điện tử là tin nhắn thoại trích xuất từ tài khoản Zalo "Nguyễn Tuấn A" do ông Nguyễn Văn Tuấn A cung cấp theo Biên bản làm việc ngày 26 tháng 7 năm 2023 (kèm theo hồ sơ vụ án).

- Mẫu tóc bị hại Đỗ Nhật T thu giữ theo Biên bản khám nghiệm tử thi ngày 24 tháng 7 năm 2023. (đã được sử dụng hết trong quá trình trưng cầu giám định ADN).

Tại Kết luận giám định tử thi số 131/GĐTT-KTHS ngày 07/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Bến Tre, kết luận: “Nạn nhân Đỗ Nhật T chết do suy tuần hoàn cấp hậu quả của vết thương vùng ngực trái”.

Tại Kết luận giám định số 5157/KL-KTHS ngày 31 tháng 8 năm 2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:

- Trên con dao xếp gửi giám định có dính máu người. Phân tích gen (ADN) từ dấu vết máu này được 01 kiểu gen, trùng với kiểu gen của Đỗ Nhật T.

- Không phát hiện thấy máu người trên 01 con dao bấm, 01 quần dài màu đen và 01 áo sơ mi dài tay màu trắng gửi giám định.

H6 lại đối tượng giám định: 02 con dao, 01 quần dài màu đen, 01 áo sơ mi tay dài màu trắng.

Quá trình điều tra, đại diện hợp pháp cho bị hại Đỗ Nhật T là ông Đỗ Văn H3 yêu cầu Nguyễn Hải B bồi thường số tiền 235.000.000 đồng chi phí điều trị thương tích, tổn thất tinh thần và mai táng phí. Nguyễn Hải B đồng ý bồi thường, đã tác động gia đình bồi thường cho ông Đỗ Văn H3 số tiền 235.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSBT-P1 ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Nguyễn Hải B về “Tội giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Hải B trình bày lời khai: bị cáo thừa nhận vào khoảng 21 giờ ngày 23/7/2023 có đến quán “Ốc Hẻm” thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 là em gái của bị cáo, dự tiệc sinh nhật còn có Nguyễn Thị Anh T3 là bạn của Nguyễn Ngọc Anh T6. Do thấy Nguyễn Thị Anh T3 uống rượu có dấu hiệu say xỉn nên bị cáo không cho nhóm của bị hại Đỗ Nhật T đưa về, từ đó giữa nhóm của bị cáo với nhóm của bị hại T có lời qua tiếng lại và cự cãi nhau, sau đó bị cáo dùng dao xếp mang theo sẵn đâm Đỗ Nhật T 01 nhát, hậu quả bị hại T tử vong. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản cáo trạng truy tố, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại, ông Đỗ Văn H3 trình bày lời khai: ông là cha của bị hại Đỗ Nhật T, ông không có chứng kiến sự việc xảy ra. Trong quá trình điều tra ông yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tổng số tiền 235.000.000 đồng, bị cáo đã bồi thường xong, ông không yêu cầu bồi thường gì thêm; về trách nhiệm hình sự ông yêu cầu xử lý bị cáo theo pháp luật; ông không có yêu cầu gì khác.

- Đại diện gia đình bị cáo, ông Nguyễn Phú H trình bày lời khai: khoảng 21 giờ ngày 23/7/2033, ông chở vợ tên Phan Thị Mỹ H1 đến quán “Ốc Hẻm” thuộc Phường G, thành phố B để dự tiệc sinh nhật của con gái ông tên Nguyễn Ngọc Anh T6. Trong lúc dự tiệc có người nữ cũng tên là T6 có dấu hiệu say rượu. Khoảng 15 phút sau, có nhóm khoảng 05 nam thanh niên đến nói rước Thư về, lúc này B nói là khi nào có gia đình T6 lại mới cho về hoặc là về nhà em gái nghỉ sáng về. Rồi hai bên cự cãi liên quan việc đưa T6 về, ông thấy Q rượt đuổi 01 thanh niên trong nhóm bên kia chạy ra hướng bến phà Hàm Luông cũ, khi quay lại thì thấy có 01 thanh niên bị đâm trúng ngã nằm dưới đất, ông thấy có người đưa đi cấp cứu. Lúc này ông chở B về nhà ở xã P, thành phố B. Sau đó khoảng 15 phút, B kêu ông chở B ra gần đầu lộ thì có bạn của B chạy đến rước Bằng đi đâu không rõ, ông đi về nhà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Vinh Q trình bày lời khai: vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, anh dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ố" thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, sau đó thì 01 người bạn nữ của T6 bị say rượu. Đến khoảng 10 phút sau, có 01 thanh niên đến quán nói là anh của người bạn nữ và định chở người bạn nữ về nhưng bạn nữ không chịu về. Sau đó có 01 thanh niên nói “giờ mấy anh muốn sao”. Lúc này, anh móc con dao bấm ra rượt người thanh niên vừa nói câu “giờ mấy anh muốn sao”, người thanh niên đó bỏ chạy về hướng bến phà Hàm Luông cũ, anh đuổi theo một đoạn thì không đuổi nữa. Lúc này, T7 A chạy đến chỗ anh và nói “chuyện không đáng bỏ đi”, anh đi trở lại quán “Ốc Hẻm” thấy có 01 thanh niên chảy nhiều máu được đưa đi bệnh viện. Anh chở Lê Trần Ngọc H4 là bạn gái của anh về nhà của B, anh hỏi B “nãy đâm ở đâu mà máu dữ vậy”, B nói “tôi không biết nữa bạn”, sau đó B đến nhà T2, anh đến nhà T2 thì B đang ngủ, Thanh H5 (vợ B) khóc và nói “con dao đâm lút cán luôn đó bạn”, lúc đó M cầm con dao bấm lưỡi dao ra, anh thấy trên lưỡi dao dính máu, sau đó M xếp phần lưỡi dao lại rồi để dao gần đó. Sau đó anh, Ngọc H4, T2, B xuống quán B2 ở xã P. Tại quán B2 có nói với ông V chủ quán Bida 838 “lỡ đâm 01 thằng ở quán tại Phường G rồi”, đến sáng thì Công an đến mời anh làm việc.

- Người làm chứng chị Dương Thị Thanh H2 trình bày lời khai: chị có dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 vào ngày 23/7/2023, tại bữa tiệc có lời qua tiếng lại giữa nhóm bị cáo và bị hại T. Chị thấy Tân ôm bụng nằm gục dưới đất chảy máu nhưng không nhìn thấy ai đâm T, nhóm bạn của T đưa T đi cấp cứu. Lúc ở nhà của T2, bị cáo nói với chị là “anh đâm rồi”, bị cáo đưa con dao cho chị, chị biết con dao này là của bị cáo vì trên cán dao có khắc tên của chị.

- Người làm chứng anh Nguyễn Văn T7 A trình bày lời khai: anh có dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ốc Hẻm” vào đêm 23/7/2023, có xảy ra lời qua tiếng lại giữa nhóm của anh và nhóm của bị hại. Q đuổi theo 01 thanh niên, anh chạy theo sau ôm Q lại, anh thấy Q cầm 01 con dao. Anh cùng Q quay trở lại quán “Ốc Hẻm” thì thấy nhóm người bên bị hại điều khiển xe mô tô chạy đi, anh thấy gần gốc cây có nhiều máu, anh có hỏi thì B nói “tôi đâm đó bạn”.

- Người làm chứng chị Lê Trần Ngọc H4 trình bày lời khai: chị có dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ốc Hẻm” đêm 23/7/2023. Nguyễn Thị Anh T3 say rượu có nói cho chị nghe là “Không có anh em ruột gì hết, không muốn T và bạn của T chở về”. Một lúc sau chị thấy Q rượt theo bạn kia, chị theo cản Quang, A chạy theo cản Quang, chị có lấy con dao của Q rồi bỏ vào túi xách của chị. Sau đó chị đến nhà T2 thì nghe chị Thanh H2 nói là “Bằng đâm lút cán luôn”, chị xem con dao thấy có dính máu, sau đó chị ra về, về tới đầu hẻm chị trả lại con dao cho Q.

- Người làm chứng anh Lê Công M vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 449): anh làm phục vụ tại quán “Ốc Hẻm” ngày 23/7/2023, Nguyễn Ngọc A1 Thư có mời anh dự sinh nhật tại quán. Đến khoảng hơn 21 giờ Nguyễn Ngọc Anh T6 kêu tính tiền, trong lúc kiểm tra tính tiền thì anh thấy có 4-5 thanh niên chạy xe mô tô đến rước 01 bạn nữ về nhưng nghe bạn nữ nói không muốn về. Bằng nói “có gì điện thoại cho ba mẹ nó lại rước, chứ tụi bây là gì mà rước nó”, hai bên lời qua tiếng lại. Q và A rượt đuổi 01 thanh niên nhóm kia, anh quay lại thì thấy có 01 thanh niên nhóm bên kia té xuống đất gần mép đường, trên áo phía trước ngực có dính máu, nhóm bên kia kè thanh niên bị thương đi cấp cứu, anh không thấy Bằng đâu. Sau đó anh đến nhà B hỏi B “hồi nãy ai đâm thằng đó”, B trả lời “anh đâm”. Sau đó B qua nhà anh T2, anh cũng đến nhà anh T2. Anh nhìn thấy con dao bấm để trên bàn gần đó, anh biết đây là con dao của B, anh bấm con dao ra coi thử thì thấy có máu dính trên dao, anh xếp dao lại để trên bàn, sau đó anh về.

- Trong quá trình điều tra, người làm chứng anh Nguyễn Thành P1 có lời khai như sau (bút lục số 458): ngày 23/7/2023, anh có dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ốc Hẻm”, trong tiệc sinh nhật có bạn nữ tên Nguyễn Thị Anh T3 bị say rượu, sau đó có 05 thanh niên đến hỏi “Thư đâu rồi”, trong bàn có người hỏi lại “mày là ai, sao đòi rước Thư về”, thanh niên đội nón bảo hiểm màu trắng nói “là anh của T3”. Bằng nói “đã gọi điện cho mẹ của T3 lên rước rồi, giờ không cho ai chở về hết”. Lúc này anh thấy anh Q đánh thanh niên đội nón bảo hiểm màu xanh, thanh niên này bỏ chạy anh Q đuổi theo. Do anh chỉ quan tâm theo dõi hành động của anh Q nên không để ý diễn biến tại quán. Sau đó anh nghe có người la lên “làm gì nó máu không vậy” và có người hỏi “ai đâm nó vậy”. Anh thấy người thanh niên đội nón bảo hiểm màu trắng đang nằm co giật dưới đất, trong quá trình điều tra anh biết người thanh niên này tên Đỗ Nhật T, những người đi chung đưa Đỗ Nhật T đi cấp cứu.

- Người làm chứng anh Đoàn Nguyễn Hoàng P2 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 464, 465): vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, anh dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ố" thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, sau đó Nguyễn Thị Anh T3 bị say rượu. Đến khoảng 30 phút sau có 05 người thanh niên chạy xe mô tô đến quán nói là bạn của Nguyễn Thị Anh T3 đến chở T3 về, Bằng không cho và nói đã điện thoại cho mẹ của Nguyễn Thị Anh T3 đến chở T3 về. Sau đó hai bên cự cãi nhau, lúc này anh Q lấy dao trong người ra rượt đuổi người thanh niên dáng nhỏ con, người thanh niên này chạy về hướng bến phà H cũ, Q cầm dao đuổi theo, anh đuổi theo Q để can ngăn, anh kêu anh Q đừng rượt đuổi nữa, lúc này anh nghe tiếng nữ nói lớn là “máu không à”, anh đi trở l thì thấy người thanh niên dáng người ốm cao trên người chảy nhiều máu, Nguyễn Thị Anh T3 ôm người này và nói tỉnh dậy đi anh, sau đó người thanh niên bị đâm được đưa đi cấp cứu, anh về nhà ngủ, M có điện thoại cho anh và nói “Bằng đâm nó chết rồi”, sau này anh mới biết người chết tên là Đỗ Nhật T nhà ở xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Người làm chứng chị Nguyễn Trần Bảo C vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 471-472): vào ngày 23/7/2023, chị có dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6, đến khoảng 21 giờ đến 21 giờ 30, chị có dìu 01 bạn tên Thư từ trong nhà vệ sinh ra cùng với chị Thanh H2. Lúc đó có 01 người đàn ông bước tới và kéo T6 về nhưng do không quen biết nhau nên mọi người trong tiệc nói đợi ba mẹ T6 xuống rồi mới cho bạn chở T6 về, sau đó có thêm 01 bạn nam bước vào, rồi thêm 3-4 bạn nam chạy xe tới nhưng chị không quen biết ai, sau đó xảy ra ẩu đả, chị thấy T6 bật dậy chạy đến chỗ nạn nhân, chị chạy lại với ý định đỡ T6 nhưng vừa chạy tới thì thấy nạn nhân đã bị thương và chảy máu. Do sợ quá nên khi nạn nhân được đưa vào bệnh viện thì chị và chị Thanh H2 lên xe đạp điện chạy về nhà.

- Người làm chứng anh Nguyễn Quốc T1 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 474): khoảng 16 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, B điều khiển xe mô tô chở anh đến quán “Ốc Hẻm C" thuộc Phường G, thành phố B để dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6. Trong lúc uống rượu thì có 01 người nữ say rượu và ngồi ngủ gục. Khoảng 22 giờ cùng ngày thì có một nhóm nam khoảng 05 người đến và có 02 người nam đến gần vị trí người nữ nói chở người nữ về. Khi đó, B đứng lên nói không cho chở về và kêu cha mẹ người nữ đến rước, rồi xảy ra cự cãi. Lúc này B, người nam mặc áo đen (ngồi kế anh) xông lại vị trí 02 người nam trên, người nam áo đen đuổi theo người nam (nhóm kia) bỏ chạy; còn B thì xảy ra xô xát với người nam còn lại. Sau đó, anh thấy người nam trên nằm gục và cơ thể chảy nhiều máu rồi được đưa đi bệnh viện cấp cứu.

- Người làm chứng chị Huỳnh Thục N1 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 477): khoảng hơn 19 giờ 00 ngày 23/7/2023, chị có dự sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ố" thuộc Phường G, thành phố B. Khoảng được 01 tiếng sau thì có nhóm thanh niên khoảng 06 người điều khiển xe mô tô đến đòi rước 01 người nữ đã say rượu đang ngồi ở bàn tiệc, người bạn nữ này nói “không quen biết người nam thanh niên, không chịu đi về”. Lúc này, B nói là kêu ba mẹ người bạn gái say rượu lên rước về, còn không ngủ lại với vợ của B. Bên kia tiếp tục đòi rước về, nói với B “sao không cho chở về”, hỏi tiếp Bằng “giờ sao”, “muốn gì”. Lúc này, Q đứng bật dậy rượt đuổi thanh niên nói chuyện lúc nảy chạy về hướng bến phà cũ, chị chạy theo anh Q mục đích để cản anh Q lại, chạy theo anh Q một đoạn thì quay lại. Lúc này người bạn bị say rượu hỏi chị “ai đâm bạn em”, chị trả lời “không biết”, nhìn qua bên cạnh thì thấy có 01 nam thanh niên đang nằm trên tay người bạn nhóm bên kia, trên người dính nhiều máu, sau đó người này được đưa đi cấp cứu. Sau khi sự việc xảy ra, chị về nhà ngủ đến sáng hôm sau thì biết tin người thanh niên bị đâm đã chết.

- Người làm chứng anh Lê Thành T2 trình bày lời khai: vào khoảng hơn 21 giờ 00 ngày 23/7/2023, chị H2 (vợ anh B) gọi điện thoại cho anh nói “anh B có chuyện, giờ anh chị xuống nhà được không”, anh trả lời “nhà em không có khoá cửa, anh chị vô nhà đi”. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày anh về nhà. Chị H2 kể với anh là anh B có đâm 01 người, anh thấy có 01 con dao bấm để trên bàn, anh cầm con dao bấm lên xem thấy có dính máu rồi bỏ xuống bàn. Khoảng 30 phút sau, anh, Q, Ngọc H4 và B xuống quán Bida 838 gặp anh V chủ quán, B có kể lại sự việc Bằng đâm người. Anh V nói “Bây giờ không biết người bị đâm giờ sao nên không giải quyết được, để mai biết nạn nhân sao rồi mới giải quyết”. Sau đó anh về nhà, đến sáng ngày 24/7/2023 Công an đến hỏi sự việc con dao thì anh giao nộp con dao cho Cơ quan Công an.

- Người làm chứng ông Trần Quốc V vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 485-486): khoảng hơn 00 giờ ngày 24/7/2023, H4 dẫn 02 nam thanh niên đến quán Bida 838, tại đây nhóm của H4 kể lại sự việc đi dự sinh nhật thì có một nhóm thanh niên khác đến đòi đưa 01 đứa con gái bị say rượu về, nên hai bên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến 01 thanh niên nhóm của H4 đâm 01 thanh niên nhóm bên kia bị thương tích, 01 thanh niên trong nhóm của H4 có nói với ông “con lỡ đâm trúng người ta”. H4 đến nhờ ông giúp cho nghỉ qua đêm tại quán B2 vì lo sợ nhóm bên kia trả thù. Qua trao đổi, ông không đồng ý giúp nhóm của H4, ông khuyên nhóm của H4 kêu người nhà đến gặp người bị đâm xem tình trạng người ta như thế nào, rồi sắp xếp đưa thanh niên đâm trúng người ta ra Công an trình báo sự việc. Do sự việc nêu trên hoàn toàn không liên quan gì đến ông, với lại ông với H4 cũng không có quen biết thân thích gì nên ông từ chối yêu cầu của H4. Khoảng 10 phút sau nhóm của H4 rời khỏi quán B2, đi đâu làm gì không rõ.

- Người làm chứng chị Nguyễn Thị Anh T3 trình bày lời khai: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/7/2023, bạn chị tên Đỗ Nhựt T9 chở chị đi dự tiệc sinh nhật của Nguyễn Ngọc Anh T6 tại quán “Ốc Hẻm C" thuộc Phường G, thành phố B, trong quá trình dự tiệc chị uống rượu bị say. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày T9 đến rước chị về. Lúc này chị say rượu ngồi gật gù không để ý gì, khi ngước lên thấy T9 ngã gục xuống, chị đến đỡ T9 lên, chị nghe tiếng kêu “cản thằng Q lại”. Sau đó T9 được đưa vào bệnh viện cấp cứu, chị được cha mẹ đưa về nhà, đến ngày 24/7/2023 thì chị nghe tin T9 chết.

- Người làm chứng anh Võ Trần Hoàng N2 trình bày lời khai: vào khoảng 21 giờ 50 phút ngày 23/7/2023, anh cùng với Đỗ Nhật T, Tất Gia B1, Trần Hồng T10 đến quán “Ốc Hẻm” để rước Nguyễn Thị Anh T3. Khi đến quán “Ốc Hẻm”, T đi lại bàn T3 kêu T3 về nhà, lúc đó nhóm nhậu trong bàn nói không cho rước T3 về, anh có nói để mẹ T3 lên rước về, lúc đó có 01 người nam mặc áo thun đen sau này biết tên là Q cầm dao rượt theo anh, anh bỏ chạy vào hẻm trốn, sau đó B1 điện thoại kêu anh ra và trình báo Công an.

- Người làm chứng anh Trần Hoàng T4 trình bày lời khai: vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 23/7/2023, anh cùng T và B1 và người anh bà con của T đến quán “Ốc Hẻm C" thuộc Phường G, thành phố B để đón Nguyễn Thị Anh T3 đang dự sinh nhật, sau đó T đi lại bàn T3 thì có 01 nam thanh niên mặc áo đen đứng lên móc con dao trong túi quần ra chạy đến định đâm N2, Nam né được và bỏ chạy vòng ra sau bàn tiệc. Sau đó anh chạy theo N2 coi có sao không, khi quay lại thì thấy T đã gục dưới đất, anh đưa T đi cấp cứu tại bệnh viện N3.

- Người làm chứng ông Nguyễn Hoàng T5 vắng mặt nhưng trong quá trình điều tra có lời khai (bút lục số 515-5160): vào lúc 19 giờ ngày 23/7/2023, Đỗ Nhật T rủ anh đi uống cà phê gần cầu B, sau đó ra tiệm B3 ở thành phố B chơi, đến khoảng 20 giờ 45 phút thì có thêm 3 người bạn của T lại chơi cùng. Đến 21 giờ 30 phút thì T kêu đi rước bạn gái, khi đến quán Ốc gần vòng xoay cầu B thì T vào rước bạn gái nên anh đậu xe ở ngoài lề đường đợi. Nhưng những thanh niên trong bàn tiệc không cho T đưa bạn gái về, lúc đó có 01 người bạn của T tên là N2 vào nói chuyện với mấy thanh niên trong bàn nhậu, hai bên lời qua tiếng lại vài câu thì bên mấy thanh niên ngồi trong bàn nhậu cầm dao tấn công T và N2, anh có vào can ngăn thì thấy N2 bị 02 thanh niên trong bàn nhậu đuổi đánh, còn T thì xỉu dưới đất nên anh đã bế T lên xe đưa đi bệnh viện N3 cấp cứu, chuyện xảy ra lúc sau tại quán anh hoàn toàn không biết.

- Người làm chứng anh Tất Gia B1 trình bày lời khai: khoảng 22 giờ ngày 23/7/2023, Đỗ Nhật T đến quán “Ốc Hẻm C” để rước người bạn tên T3 đi sinh nhật về, anh cùng Võ Trần Hoàng N2, Trần Hoàng T4 và 01 người tên T5 là anh họ hàng của T đi theo. Khi đến quán, anh với T5 đứng ngoài; T, T4 vô quán, T nói rước T3 về, B nói không cho về, đợi người nhà của T3 rước T3 về, hai bên lời qua tiếng lại; Q rượt Nam nên N2 bỏ chạy, anh đi ngược vô bàn tiệc thấy T đi 02 bước thì té gục xuống; Thư đến đỡ T, anh cũng đến đỡ T thì thấy T có dấu hiệu co giật nhẹ; anh kêu T4, T5 cùng đưa T đi cấp cứu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: khẳng định Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSBT-P1 ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố Nguyễn Hải B về “Tội giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải B phạm “Tội giết người”;

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải B từ 16 năm đến 18 năm tù;

Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo Nguyễn Hải B đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại xong cho phía gia đình bị hại là ông Đỗ Văn H3 tổng số tiền 235.000.000 đồng, ông H3 không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Trả lại cho anh Lê Vinh Q: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen nhãn hiệu “OPPO”, số IMEI “866314059174712”, có gắn sim 0857174119;

Tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

- Bị cáo không tranh luận.

- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu tranh luận: đồng tình với Bản cáo trạng truy tố bị cáo theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại xong cho phía gia đình bị hại tổng số tiền 235.000.000 đồng theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, đã tham gia nghĩa vụ quân sự, là đảng viên, có con nhỏ, sau khi phạm tội đã ra đầu thú theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo đã tích cực hợp tác với Cơ quan điều tra trong việc giải quyết vụ án nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Bị cáo chỉ vì muốn bảo vệ Nguyễn Thị Anh T3 nên không cho nhóm bị hại đưa T3 về, nếu như cha mẹ T3 đến rước T3 về thì hậu quả đáng tiếc không xảy ra. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt cho bị cáo dưới mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại không tranh luận.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình và chăm sóc vợ con, bị cáo gởi lời xin lỗi đến gia đình bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về thủ tục tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bến Tre, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; tại phiên tòa vắng mặt 07 người làm chứng nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra làm rõ tình tiết của vụ án, việc vắng mặt người làm chứng không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng được thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập, có cơ sở xác định: mặc dù không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt nhưng vào khoảng 22 giờ ngày 23/7/2023, tại quán “Ố" thuộc Khu phố B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Hải B đã có hành vi dùng dao đâm vào vùng ngực trái của anh Đỗ Nhật T làm anh T tử vong.

Về tội danh: bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhen nhưng bị cáo đã sử dụng con dao sắc bén, đâm trúng vào vùng ngực trái là vùng hiểm yếu trên cơ thể bị hại, dẫn đến bị hại tử vong do suy tuần hoàn cấp hậu quả của vết thương vùng ngực trái; bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tính mạng của bị hại, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Với ý thức, hành vi, nguyên nhân và hậu quả do bị cáo gây ra, thấy rằng Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSBT-P1 ngày 12/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Nguyễn Hải B về “Tội giết người” với tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về nguyên nhân, điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội; thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội; tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra: xuất phát từ việc bị cáo Nguyễn Hải B không cho nhóm bị hại Đỗ Nhật T đưa chị Nguyễn Thị Anh T3 về trong tình trạng chị Nguyễn Thị Anh T3 bị say rượu khi dự tiệc sinh nhật của chị Nguyễn Ngọc Anh T6, dẫn đến hai bên lời qua tiếng lại cự cãi nhau; bị cáo B đã dùng dao xếp mang theo sẵn trong người đâm 01 nhát vào khu vực vùng ngực bên trái của bị hại T gây ra vết thương vùng đường nách giữa bên trái hình bầu dục, bờ mép sắc gọn, kích thước 1,5cm x 0,4cm, chiều hướng từ dưới lên trên, từ trái sang phải, thấu vào khoang ngực trái qua liên sườn VII-VIII, gây thủng mặt trước tâm thất phải và đứt vách liên thất, dẫn đến nạn nhân Đỗ Nhật T chết do suy tuần hoàn cấp hậu quả của vết thương vùng ngực trái. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện bản tính côn đồ, xâm phạm tính mạng của con người một cách trái pháp luật; hành vi phạm tội của bị cáo đã gây đau thương mất mát cho gia đình bị hại không gì bù đắp được, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; lượng hình: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, có con còn nhỏ, có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại xong cho phía bị hại với tổng số tiền 235.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy bị cáo phạm tội có khung hình phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng bởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, phạm tội thể hiện bản tính côn đồ, coi thường pháp luật, coi thường mạng sống con người. Qua xem xét tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả xảy ra, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng loại hình phạt theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại với tổng số tiền 235.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu “OPPO”, có gắn sim 0857174119 là tài sản của anh Lê Vinh Q, đây không phải là công cụ phương tiện phạm tội và anh Q có yêu cầu nhận lại nên trả lại cho anh Lê Vinh Q là phù hợp.

- Đối với các vật chứng còn lại là công cụ phương tiện phạm tội, hoặc là tài sản không phải là công cụ phương tiện phạm tội nhưng chủ sở hữu không yêu cầu nhận lại và có yêu cầu tiêu hủy nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.

Về các vấn đề khác:

Quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh và hình phạt đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng của vụ án là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử.

Quan điểm của người bào chữa đề nghị áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Xét thấy, việc bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đã tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra sớm kết thúc điều tra vụ án là thể hiện sự thành khẩn khai báo của bị cáo đối với vụ án này, chứ không có ý nghĩa trong việc phát hiện tội phạm mới hoặc vụ án khác, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” cho bị cáo là phù hợp; mặt khác việc xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị là chưa nghiêm, chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra, chưa đủ sức sức răn đe, phòng ngừa chung. Vì vậy đề nghị nêu trên của người bào chữa không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với việc Lê Vinh Q, Nguyễn Văn T7 A có hành vi rượt đuổi Võ Trần Hoàng N2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bến Tre đã thông báo cho Công an P3, thành phố B (nơi xảy ra vụ việc) xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

Đối với việc ông Nguyễn Phú H (cha bị cáo B), Nguyễn Thị Thanh H5 (vợ bị cáo B), Lê Vinh Q, Lê Thành T2, Lê Công M, Lê Trần Ngọc H4, ông Trần Quốc V có biết việc Nguyễn Hải B đâm người khác nhưng không biết hậu quả ra sao, đến khi biết bị hại tử vong đã động viên bị cáo đầu thú nên chưa đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự những người nêu trên về hành vi không tố giác tội phạm.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hải B phạm “Tội giết người”;

Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải B 17 (mười bảy) năm tù;

Thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 591 của Bộ luật Dân sự;

Ghi nhận bị cáo Nguyễn Hải B đã bồi thường thiệt hại xong cho người đại diện hợp pháp của bị hại là Đỗ Văn H3. Ông H3 không yêu cầu gì thêm.

3. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự:

* Trả lại cho Lê Vinh Q: 01 (một) điện thoại di động cảm ứng, màu đen nhãn hiệu “OPPO”, số IMEI “866314059174712”, có gắn sim 0857174119.

* Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) con dao xếp có cán bằng kim loại màu đen, trên cán dao có chữ “Thanh Hương”, phần cán dao dài 14,5cm.

- 01 (một) con dao bấm bằng kim loại màu đen, dao dài 24,2cm, lưỡi dao dài 11cm, dao có một cạnh sắc, mũi dao nhọn, trên cán dao có hình con bò cạp, trên thân dao có một nút dùng để bấm dao ra và một nút dùng để khóa dao.

- 01 (một) quần dài màu đen, hai bên quần có hai túi, bên trong lưng quần bên trái có chữ “HT-Fashion”.

- 01 (một) áo sơ mi dài tay màu trắng, bên trong cổ áo có chữ “Mr- KEN men Collection”.

- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen, phía trước ngực áo có nhiều dòng chữ có nhiều màu, trên cổ áo có chữ “DSQUARED2”.

- 01 (một) quần vải jeans, màu đen, có nhiều vết rách, ở lưng quần có chữ “DSQUARED2”.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh Bến Tre với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre).

4. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Nguyễn Hải B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

5. Về quyền và thời hạn kháng cáo: bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

[6] Về thi hành án: Trong trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

Cỡ chữ