- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phan Trung N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày: 30/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Trọng Tuấn
2. Bà Trần Vĩnh Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Tạ Bá Nhịn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thủy xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/HSST ngày 10 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 11/01/2024, đối với bị cáo:
Phan Trung N, sinh ngày 09/05/1990 tại Bến Tre; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Số D, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre; Quê quán: Thạnh Phú Đ, G, Bến Tre; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: Làm thuê; họ và tên cha: Phan Văn T, sinh năm 1959 (Đã chết); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Thùy M, sinh năm 1961 (Đã chết); có vợ và 01 con.
Tiền án: 01 lần (Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 52/2018/HS-ST ngày 07/8/2018, chấp hành án xong ngày 08/02/2023.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/10/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà Tạm giữ Công an quận B, thành phố Cần Thơ. Bị cáo có mặt.
Bị hại: Đình B; Địa chỉ: Đường L, Khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
Đại diện bị hại: Ông Lâm Tấn L, sinh năm 1984; Địa chỉ: Số C, Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Bùi Trung H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
2. Bà Lê Thị Bích L1, sinh năm 1983; Địa chỉ: Khu V, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Trung N và Bùi Trung H có quen biết với nhau trong thời gian chấp hành án tại Trại giam C, tỉnh Bến Tre. Ngày 05/6/2023 N gọi điện cho H thông báo là N về nhà của H tại Khu V, phường T, quận B, thành phố Cần Thơ chơi. Do sáng ngày 07/6/2023 H phải đi học lái xe ô tô ở quận C nên H chở N theo cùng. Khi cả hai đi ngang qua Đình Bình Thuỷ trên đường L, N quan sát thấy trên mái Đình B có gắn các bức tượng hình người nên nảy sinh ý định lấy trộm. Khi về nhà của H, N lấy một số dụng cụ bao gồm: Búa, dao, tua vít, dây vải dù rồi bỏ vô balô của N. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, N hỏi mượn xe mô tô BKS: 65T1 – 8954 của H đi ăn tối, H đồng ý cho mượn xe. Khoảng 00 giờ ngày 08/06/2023 N một mình điều khiển xe mô tô mang BKS: 65T1 – 8954 đến Đình B và giấu xe ở gần bờ sông B. N mang theo balô đi bộ đến trước cổng Đình B, quan sát xung quanh thấy không có ai nên leo qua hàng rào cạnh đường L rồi leo lên mái Đình Bình T1. Lúc này, N dùng búa và dao đã chuẩn bị từ trước để cạy bức tượng đặt trên mái Đình B. Trong lúc đang cạy bức tượng bị vỡ thành nhiều mảnh và rơi trên mái Đ1, N nhặt lên và bỏ vào balô. Cùng lúc đó thì N bị anh Nguyễn Văn A và anh Võ Văn K là bảo vệ Đình Bình T1 nghe tiếng động trên mái Đ1 nên đi kiểm tra phát hiện N và truy hô. Lúc đó, N bỏ bức tượng lại trên mái Đ1 rồi bỏ chạy vào Hẻm H, khu V, phường B. Sau đó, N nhảy xuống sông B, bám vào trụ cầu B thì bị lực lượng Dân phố và Công an phường B phát hiện bắt giữ đưa về làm việc.
Vật chứng thu giữ: 01 ba lô màu đen; 01 cây búa có đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 cây tua vít bằng kim loại, cán bằng nhựa sọc đỏ; 02 đoạn dây dù vải màu xanh; 02 chiếc dép nhựa màu xám có quai màu xanh; 01 quần jean màu xanh đen; 01 áo thun màu xanh đen; 01 tượng ông N1, gốm men nhiều màu – S (N - Việt Nam), Kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm, tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65T1 – 8954, số máy: 5P11121733, số khung: RLCN5P1109Y121733, màu đen đỏ (đã qua sử dụng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL- HĐĐGTS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 tượng ông N1 gốm men nhiều màu – S (N - Việt Nam); niên đại: 1909 – 1910 là cổ vật. Tượng có kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm; tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh có giá trị là 200.000.000 đồng.
Cáo trạng số 09/CT-VKSBT ngày 08/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy truy tố bị cáo Phan Trung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng. Hành vi của bị cáo N là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người đã thành niên và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã có một tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích nhưng vẫn tiếp tục vi phạm. Hành vi của bị cáo N đã gây mất trật tự tại địa phương nên bị áp dụng tình tiết tang nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50, điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Phan Trung N từ 08 năm đến 09 năm tù.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với các vật chứng: 01 ba lô màu đen; 01 cây búa có đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 cây tua vít bằng kim loại, cán bằng nhựa sọc đỏ; 02 đoạn dây dù vải màu xanh; 02 chiếc dép nhựa màu xám có quai màu xanh; 01 quần jean màu xanh đen; 01 áo thun màu xanh đen không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu huỷ.
Quá trình điều tra Công an quận B đã giao trả các vật chứng sau: 01 cổ vật tượng ông N1 gốm men nhiều màu – S (N - Việt Nam); niên đại: 1909 – 1910. Kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm; tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh cho Ủy ban nhân dân phường B; Trả cho bà Lê Thị Bích L1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65T1 – 8954 số máy: 5P11121733; số khung: RLCN5P1109Y121733, màu đen đỏ.
- Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản cùng các chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào lúc 00 giờ 00 phút ngày 08/6/2023 Phan Trung N một mình điều khiển xe mô tô mang BKS: 65T1 – 8954 đã mượn của Bùi Trung H để đi đến Đình Bình T1 và giấu xe ở gần bờ sông B. N mang theo balô đi bộ đến trước cổng Đình B, quan sát xung quanh thấy không có ai nên leo qua hàng rào cạnh đường L rồi leo lên mái Đình Bình T1. Lúc này, N dùng búa và dao đã chuẩn bị từ trước để cạy bức tượng đặt trên mái Đình B. Trong lúc đang cạy bức tượng bị vỡ thành nhiều mảnh và rơi trên mái Đ1, N nhặt lên và bỏ vào balô. Anh Nguyễn Văn A và Võ Văn K là bảo vệ của Đình Bình T1 nghe tiếng động nên đi kiểm tra phát hiện N và truy hô. Lúc đó, N bỏ bức tượng lại trên mái Đ1 rồi bỏ chạy vào Hẻm H, khu V, phường B. Sau đó, N nhảy xuống sông B, bám vào trụ cầu B thì bị lực lượng Dân phố và Công an phường B phát hiện bắt giữ, đưa về làm việc.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 ba lô màu đen; 01 cây búa có đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 cây tua vít bằng kim loại, cán bằng nhựa sọc đỏ; 02 đoạn dây dù vải màu xanh; 02 chiếc dép nhựa màu xám có quai màu xanh; 01 quần jean màu xanh đen; 01 áo thun màu xanh đen; 01 tượng ông N1, gốm men nhiều màu – S (N
- Việt Nam), Kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm, tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65T1 – 8954, số máy: 5P11121733, số khung: RLCN5P1109Y121733, màu đen đỏ (đã qua sử dụng).
Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL- HĐĐGTS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá, xác định tài sản bị trộm là 01 tượng vật cổ ông N1, gốm men nhiều màu – S (N - Việt Nam), Kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm, tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh có giá trị 200.000.000 đồng.
Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Phan Trung N về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của tổ chức, tài sản là di sản văn hoá lịch sử gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bản thân bị cáo có sử dụng chất ma tuý và từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời điểm phạm tội bị cáo dương tính với ma tuý. Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong vào ngày 08/02/2023. Tuy nhiên, đến ngày 08/6/2023 Phan Trung N tiếp tục phạm tội nên phạm vào tình tiết tăng nặng tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Ngoài ra, bị cáo cho rằng ông N2 bị cáo là người có công với cách mạng và được tặng thưởng huân chương. Căn cứ vào Bản án số 52/2018/HS-ST ngày 07/8/2018 của Toà án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre nhận định: “gia đình bị cáo là gia đình chính sách có công với đất nước...” nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét nhân thân, tính chất mức độ và hậu quả do hành vi bị cáo gây ra thì cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung.
Trách nhiệm dân sự: Ủy ban nhân dân phường B, quận B, thành phố Cần Thơ là cơ quan quản lý Đình Bình T1, không yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí phục hồi tượng vật cổ đã bị vỡ.
Xử lý vật chứng:
Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển số 65T1 – 8954 số máy: 5P11121733; số khung: RLCN5P1109Y121733, màu đen đỏ (đã qua sử dụng) do Lê Thị Bích L1 đứng tên giấy đăng ký xe. Liễu cho Bùi Trung H mượn sử dụng, H cho N mượn xe để đi ăn. N sử dụng xe đi trộm thì L1 và H không biết. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B trả xe lại cho Lê Thị Bích L1 là phù hợp.
Đối với tượng ông N1 gốm men nhiều màu – S (N - Việt Nam); niên đại: 1909 – 1910; Kích thước: cao 95cm, ngang 35cm, đường kính đế 32cm; tượng bị thiếu tay trái, một phần bàn tay phải đã vỡ thành nhiều mảnh là cổ vật nên Cơ quan CSĐT Công an quận B trả lại Ủy ban nhân dân phường B để khôi phục là phù hợp nên ghi nhận.
Đối với các vật chứng: 01 ba lô màu đen; 01 cây búa có đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 cây tua vít bằng kim loại, cán bằng nhựa sọc đỏ; 02 đoạn dây dù vải màu xanh; 02 chiếc dép nhựa màu xám có quai màu xanh; 01 quần jean màu xanh đen; 01 áo thun màu xanh đen không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Trung N phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
2. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phan Trung N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/10/2023.
3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu giải quyết.
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau: 01 (một) ba lô màu đen; 01 (một) cây búa có đầu bằng kim loại, cán gỗ; 01 (một) cây tua vít bằng kim loại, cán bằng nhựa sọc đỏ; 02 (hai) đoạn dây dù vải màu xanh; 02 (hai) chiếc dép nhựa màu xám có quai màu xanh; 01 (một) quần jean màu xanh đen; 01 (một) áo thun màu xanh đen.
5. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Trung N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phan Trung N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Bình Thủy; - CA Q. Bình Thủy; - Chi cục THADS Q. Bình Thủy; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu hồ sơ, TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quyên |