- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HS-ST Ngày 16-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Triệu Thị Máy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Triệu Hồng Hạnh;
Bà Lương Thị Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Sơn Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 119/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:
Hoàng Văn P; sinh ngày 21 tháng 5 năm 1994, tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn D và bà Hoàng Thị B; có vợ: Mông Thị M, sinh năm 1999; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Theo quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 10/02/2012 bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng, về hành vi Trộm cắp tài sản (đã được xóa). Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 02/10/2023, tạm giam ngày 05/10/2023, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Chu Thị Nguyễn Phin, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến K - Viên chức Trung tâm quản lý cửa khẩu (theo văn bản ủy quyền ngày 09/11/2023). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đinh Văn K, sinh năm 1984; trú tai: Thôn T, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.
- Người làm chứng: Ông Chu Văn C, sinh năm 1969. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ ngày 02/10/2023, anh Chu Văn C công nhân viên thuộc Trung tâm quản lý cửa khẩu, đến Công an huyện Văn Lãng trình báo về việc mất trộm tài sản. Hồi 15 giờ ngày 02/10/2023 Hoàng Văn P đến Công an huyện Văn Lãng đầu thú về việc khoảng 08 giờ ngày 27/9/2023, Hoàng Văn P đi bộ đến đoạn đường Phi thuế quan thuộc thôn B, xã T, huyện V, thì nhìn thấy ở lề đường có 01 chiếc máy bơm nước, bên cạnh đó có chốt kiểm soát của Ban Quản lý khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng - Lạng Sơn bỏ trống, không có người trông giữ, bên trong có nhiều khung cửa nhôm. Hoàng Văn P nảy sinh ý định trộm cắp số tài sản, nhưng do chỉ có một mình và không có phương tiện đi lại, nên Hoàng Văn P đã lấy chiếc máy bơm rồi mang đi bán cho người thu mua sắt vụn dọc đường được số tiền 140.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ ngày 28/9/2023, Hoàng Văn P quay lại chốt kiểm soát với mục đích để lấy trộm số khung cửa nhôm, Hoàng Văn P tháo ốc vít trên khung cửa rồi tháo kính trên cửa, dùng tay bẻ gãy các thanh nhôm thành đoạn ngắn và cho vào bao tải, nhưng do không thể mang đi hết, nên Hoàng Văn P để lại một số thanh nhôm ở chốt để lấy sau. Hoàng Văn P đem số nhôm vừa trộm được đến cửa hàng thu mua phế liệu của anh Đinh Văn K tại thôn T, xã T, huyện V bán được 11kg với giá 330.000 đồng. Khoảng 08 giờ ngày 01/10/2023, Hoàng Văn P tiếp tục quay lại chốt kiểm soát lấy nốt 4,5 kg nhôm còn lại đi bán cho anh Đinh Văn K với giá 135.000 đồng.
Sau khi tiếp nhận Hoàng Văn P ra đầu thú, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng đã tiến hành xác định hiện trường xảy ra vụ án, xác định được vị trí Hoàng Văn P đã tháo dỡ.
Cùng ngày 02/10/2023, anh Đinh Văn K đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 bao tải dứa màu cam, bên trong có các thanh nhôm đã bị bẻ gãy có khối lượng 4,5kg và 01 bọc nilon màu trắng, bên trong có các thanh nhôm đã bị bẻ gãy có khối lượng 11kg để phục vụ công tác điều tra. Ngày 03/10/2023, qua làm việc với Trung tâm quản lý cửa khẩu và cho Hoàng Văn P nhận dạng đồ vật trộm cắp đã xác định được chiếc máy bơm Hoàng Văn P lấy trộm là máy bơm nhãn hiệu Tenshi, loại bơm tăng áp 200A.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 04/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn kết luận:
- 01 chiếc máy bơm nhãn hiệu Tenshi, loại bơm tăng áp 200A, sử dụng từ khoảng tháng 10/2021: Tổng giá trị còn lại của tài sản cần định giá đến thời điểm ngày 27/9/2023 là: 750.000 đồng;
- 6,6933m2 vách kính khung nhôm Xingpha, loại nhôm 55: Tổng giá trị còn lại của tài sản cần định giá đến thời điểm ngày 27/9/2023 là: 8.590.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 9.340.000 đồng.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 30/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn kết luận:
- 15,5 kg các thanh nhôm Xingpha, loại nhôm 55 bị bẻ gãy thành nhiều đoạn, chiều dài từ 60cm - 120cm, cũ không còn nguyên vẹn, đã qua sử dụng có giá 599.000 đồng;
- 02 tấm kính kích thước 1,25x0,93m; 02 tấm kính kích thước 0,93x0,55m; 01 tấm kính kích thước 1,25x0,872m; 01 tấm kích thước 0,872x0,65m; 01 tấm kích thước 0,75x0,55m. Các tấm kính có độ dày bằng nhau 0,5cm có giá 1.048.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản là 1.647.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn P về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn, hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản, áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 12 tháng đến 18 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại, đề nghị ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho bị hại, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự, dân sự cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ý kiến người bào chữa cho bị cáo Hoàng Văn P tại phiên tòa, nhất trí với tội danh mà Viện kiểm sát truy tố, về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thú, đến cơ quan điều tra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án quá nghiêm khắc, bị cáo phạm tội do hoàn cảnh khó khăn túng quẫn, vợ nằm viện, bị cáo không có công ăn việc làm, tài sản không có người trông coi, nên bị cáo đã trộm cắp. Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình, để bị cáo chấp hành án dài gia đình càng lâm vào hoàn cảnh khó khăn, bị cáo trộm cắp tài sản giá trị không lớn. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 đến 12 tháng tù. Bị cáo không có tài sản gì, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến tranh luận, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đến cơ quan điều tra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo phạm tội do hoàn cảnh khó khăn, vợ nằm viện. Đại diện Viện kiểm sát có tranh luận với người bào chữa, là bị cáo thành khẩn khai báo, trong vụ án chỉ một mình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, giá trị tài sản 9.340.000 đồng, trong quá trình điều tra bị cáo không khai là vợ nằm viện và tại phiên tòa không xuất trình được tài liệu gì chứng minh vợ đi viện, là lao động chính duy nhất trong gia đình, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên mức hình phạt đã đề nghị. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa cho bị cáo đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về hành vi cấu thành tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Theo đó, có căn cứ để xác định: Khoảng 08 giờ ngày 27/9/2023, tại chốt kiểm soát của Trung tâm quản lý cửa khẩu tại thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn P sau khi quan sát thấy không có người trông coi, bị cáo Hoàng Văn P đã cố ý thực hiện hành vi lén lút, lấy trộm tài sản của cơ quan, tổ chức, nhằm mục đích đem bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo Hoàng Văn P lấy trộm cắp tài sản bên ngoài và bên trong chốt kiểm soát của Trung tâm quản lý cửa khẩu. Do có một mình, không có phương tiện đi lại và địa điểm lấy trộm cách xa khu dân cư, nên trong các ngày từ 27/9/2023 đến ngày 01/10/2023, bị cáo Hoàng Văn P đã nhiều lần đến chốt kiểm soát lấy trộm tài sản bao gồm: 01 chiếc máy bơm nhãn hiệu Tenshi có giá trị 750.000 đồng; 6,6933m2 vách kính khung nhôm Xingpha, loại nhôm 55 có giá trị 8.590.000 đồng. Tổng cộng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 9.340.000 đồng. Do đó có đủ căn cứ kết luận bị cáo Hoàng Văn P phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Hoàng Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh tại địa phương, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật, nhưng muốn có có tiền để tiêu sài cá nhân, nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo thể hiện tính coi thường pháp luật. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa giáo dục chung. Để có mức án thỏa đáng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, có 01 tiền sự theo quyết định số 05/QĐ-XPHC ngày 10/02/2012 bị Công an huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn quyết định xử phạt vi phạm hành chính, bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng, về hành vi Trộm cắp tài sản (đã được xóa), nhưng bị cáo là người có nhân thân không tốt.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội đến cơ quan điều tra đầu thú, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không đứng tên, sở hữu tài sản gì có giá trị, gia đình thuộc hộ nghèo (thể hiện tại kết quả xác minh). Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với anh Đinh Văn K là người trực tiếp mua 01 bao tải dứa màu cam, bên trong có các thanh nhôm đã bị bẻ gãy có khối lượng 4,5kg và 01 bọc nilon màu trắng bên trong có các thanh nhôm đã bị bẻ gãy có khối lượng 11kg với bị cáo Hoàng Văn P, nhưng anh Đinh Văn K không biết tài sản do bị cáo trộm cắp mà có, nên không có căn cứ xử lý.
Về dân sự: Tại phiên tòa đại diện bị hại có đơn xin vắng mặt, yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản 7.693.000 (bẩy triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn) đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại, xét thấy đây là sự tự nguyện bồi thường thiệt hại tài sản cho bị hại, nên cần được chấp nhận, cụ thể: Bị cáo Hoàng Văn P có trách nhiệm bồi thường thiệt hại tài sản cho Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn với số tiền là 7.693.000 (bẩy triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn) đồng.
Tại phiên tòa anh Đinh Văn K không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mua thanh nhôm, là đã thể hiện từ bỏ quyền sở hữu theo quy định tại Điều 239 của Bộ luật dân sự. Nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại cho bị hại, nên không xem xét giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, đề nghị mức án đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa, đề nghị các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đến cơ quan điều tra đầu thú, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức án từ 09 đến 12 tháng tù cũng phù hợp, nhưng đảm bảo tính răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Hội xét xử sẽ xem xét và quyết định.
Về án phí: Bị cáo bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự, dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, bị cáo có đơn xin miễn án phí theo quy định tại Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên miễn án phí hình sự, dân sự cho bị cáo Hoàng Văn P.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 50, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 46, Điều 48 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 584, Điều 589, Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ vào Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn P phạm tội: Trộm cắp tài sản.
2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02 tháng 10 năm 2023.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
4. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Hoàng Văn P có trách nhiệm bồi thường cho Ủy ban nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn 7.693.000 (bẩy triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn) đồng.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì phải chịu lãi suất chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
5. Về xử lý vật chứng: Không xem xét giải quyết.
6. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn P.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND huyện Văn Lãng; - CQ điều tra; Nhà tạm giữ Công an h. Văn Lãng; - Bị cáo; người bào chữa; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Chi cục THADS h. Văn Lãng, t. Lạng Sơn; - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn; - Cơ quan thi hành án hình sự; - Lưu VP- hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Triệu Thị Máy |