vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Nguyên - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn N, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN ND HUYỆN TRIỆU SƠN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HS-ST
Ngày: 16 – 01- 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Thủy và bà Đào Thị Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Huỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tình - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2023/TLST-HS, ngày 19/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 8/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Văn N – Sinh năm 1992

Nơi ĐKNKTT: Thôn 2, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng H, sinh năm 1958 và bà Vũ Thị G, sinh năm 1963; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ 4; Vợ Hà Thị T, sinh năm: 1992 (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Chị Hà Thị T, sinh năm 1992; Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện T , tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các lài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Lê Văn N và chị Hà Thị T kết hôn năm 2018, đến năm 2022 vợ chồng ly hôn. Về phần tài sản chung của vợ chồng hai bên tự thỏa thuận, anh N được nhận tài sản là quán trà sữa ở thôn 3, xã T, huyện T, chị T được nhận 01 khoản tiền chênh lệch tài sản từ anh N giao lại.

Khoảng 15 giờ ngày 03/9/2023 Lê Văn N đến gặp chị Hà Thị T tại quán trà (đây là quán do cả hai mở để kinh doanh khi còn là vợ chồng), mục đích để đưa tiền cho chị T và yêu cầu chị T bàn giao lại quán trà sữa cho N. Khi đến nơi N và chị T ngồi tại bàn uống nước của quán trà. Quá trình nói chuyện, N chuyển cho chị T số tiền 175.000.000đ qua tài khoản Ngân hàng, sau đó N giao tiếp cho chị T 25.000.000đ tiền mặt rồi yêu cầu chị T dọn đồ rời khỏi nhà nhưng chị T không đồng ý đối với số tiền N đưa nên không dọn đồ đi, N thấy vậy liền giằng lai số tiền vừa đưa. Hai bên giằng co số tiền từ trong bàn ra đến cửa quán khoảng 9m. Trong lúc giằng co, chị T để chiếc điện thoại Iphone XS màu trắng đen đang cầm trên tay lên yên xe máy màu trắng của N đang dựng trước cửa quán. Do tức giận nên N cầm chiếc điện thoại di động của chị T ném xuống nền nhà phía trong quán làm điện thoại bị hư hỏng, N lên xe máy đi về nhà.

Hiện trường xảy ra vụ việc là khu vực căn nhà 2 tầng của vợ chồng chị T trước đây, tầng 1 làm quán trà sữa là nơi xảy ra vụ việc. Vị trí số 01 thể hiện trên sơ đồ là vị trí xảy ra vụ việc, vị trí chị T để chiếc điện thoại Iphone XS trên yên xe máy cách bờ tường phía Tây Bắc 2,5m, cách cửa ra vào ngôi nhà 1,5m, cách chiếc điện thoại mà N ném là 8m50.

Ngày 05/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ chiếc điện thoại Iphone XS màu thắng đen do chị Hà Thị T giao nộp với tình trạng: Mặt trước bị nứt, bong màn hình, mặt sau bị rạn vỡ, bật không lên nguồn điện.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khảo sát xác định thiệt hại của chiếc điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn, không có giá trị sử dụng.

Ngày 08/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn có công văn yêu cầu Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện Triệu Sơn tiến hành định giá 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu thắng đen đã qua sử dụng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 859/KL –HDĐGTS ngày 20/10/2023 cùa Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Triệu Sơn kết luận: 01 chiếc điện thoại Iphone XS màu trắng đen đã qua sử dụng trị giá 5.600.000đ

* Về xử lý tài liệu, đồ vật: Ngày 16/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Triệu Sơn đã trả lại chiếc điện thoại Iphone XS màu trắng đen đã bị hư hỏng hoàn toàn cho chị Hà Thị T theo yêu cầu của chị T.

* Về dân sự: Chị Hà Thị T yêu cầu bị cáo bồi thường cho chị 8.500.000đ

*Cáo trạng số 13/CT - VKS – TS, ngày 19/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố Lê Văn N về tội “ Hủy hoại tài sản”. Theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ N quyết định truy tố và đề nghị HĐXX:

-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo Điều 178 Bộ luật hình sự.

-Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 178, điểm b, s, i khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

Hình phạt đối với bị cáo từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ

Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho chị Hà Thị Tạm 5.600.000đ

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, thống nhất về tội danh, điều luât áp dụng theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đều đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể như sau:

Vào hồi 15 giờ, ngày 03/9/2023, tại quán trà sữa của Lê Văn N và chị Hà Thị T, địa chỉ thôn 3, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Lê Văn N và chị Hà Thị T có mâu thuẫn với nhau trong việc chia tài sản chung sau khi ly hôn, dẫn đến hai bên giằng co, xô sát lẫn nhau. Do bực tức nên Lê Văn N đã cầm chiếc điện thoại Iphone XS màu trắng đen của chị T đang để ở trên yên xe mô tô của N dựng ngoài cửa quán ném xuống đất lảm chiếc điện thoại bị hư hỏng hoàn toàn, gây thiệt hại 5.600.000đ

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người làm chứng

và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lê Văn N có hành vi hủy hoại tài sản có giá trị 5.600.000đ, đã cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

[3] Tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi đập vỡ điện thoại của người khác dẫn đến điện thoại không còn giá trị sử dụng của bị cáo Lê Văn N là nguy hiêm cho xã hội, đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu tài sản của chủ tài sản. Do đó cần xử bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai báo thành khẩn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s và i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên áp dụng điều 35 Bộ luật hình sự phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung:

Do áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình

phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự:

Bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường 8.500.000đ. Tuy nhiên căn cứ vào

biên bản định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thì chiếc điện thoại Iphone XS màu trắng đen của chị T trị giá 5.600.000đ, do đó buộc bị báo phải bồi thường cho chị T 5.600.000đ. Bị cáo đã bồi thường 5.600.000đ theo biên lai số 0000192 ngày 19/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 điều 178; điểm i, s,b khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật

hình sự;

Tuyên bố bị cáo Lê Văn N, phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) nộp ngân

sách Nhà nước.

[6] Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 587, Điều 590

Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Lê Văn N phải bồi thường cho chị Hà Thị T số tiền 5.600.000đ, được trừ vào số tiền bị cáo đã nộp là 5.600.000đ theo biên lai số 0000192 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Áp dụng Điều 135, 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1

Điều 21 Nghị quyết 326/2016 của UBTVQH. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày

tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ