vanban.org

Bản án 05/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước Tuyên án 12/01/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N , Điểu H và Võ Văn M P phạm "Tội trộm cắp tài sản", bị cáo Điểu H phạm "Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", bị cáo Phạm Minh T phạm "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn T N - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N , Điểu H và Võ Văn M P phạm "Tội trộm cắp tài sản", bị cáo Điểu H phạm "Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", bị cáo Phạm Minh T phạm "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐĂNG
TỈNH BÌNH PHƢỚC
___________________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2024/HS-ST
Ngày 12/ 01 /2024

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toà phiên toà: Ông Trần Văn Xuyến.

- Các Hội thẩm nhân dân: [1] Ông: Trần Đức Hòa [2] Bà: Trần Thị Chín.

- Thƣ ký ghi biên bản phiên toà: Bà Mai Thị Chang – Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phƣớc: Ông An Bắc Lừng - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09, 10, 11 và 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án Toà án nhân dân huyện Bù Đăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:151/TLST-HS, ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2023/QĐXX- ST ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với các bị cáo: Họ và tên: 1/Nguyễn Tiến N , tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh năm: 1997, tại tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú: Thôn 1, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước. Số CCCD: 070097006374, do Cục CSQLHC về TTXH cấp. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không, Trình độ học vấn: 01/12. Họ và tên cha: Nguyễn Tiến H, Họ và tên mẹ: Trần Thị H, Họ và tên vợ: Nguyễn Phương Th, Bị cáo có một con sinh năm 2016. Bị cáo có 02 chị em ruột, Bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay. Tiền án: Ngày 22/11/2021, Nguyễn Tiến N bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 02 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo bản án số: 93/2021/HSST. Nam chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 11/01/2023, đã đóng án phí, nhưng chưa được xóa án tích. ( có mặt ). 2/ Điểu H, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh năm: 1997, tại tỉnh Bình Phước. Nơi cư trú: Khu Đức Thiện, TT. Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Số CCCD: 070097007031, do Cục CSQLHC về TTXH cấp Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: S’Tiêng, Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Không, Trình độ học vấn: 05/12.Họ và tên cha: Điểu B, Họ và tên mẹ: Thị B. Bị cáo có 03 anh em ruột, Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2023 đến nay. Tiền án: Ngày 22/11/2021, Điểu H bị Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng xử phạt 02 năm tù về "Tội trộm cắp tài sản" theo bản án số 93/2021/HSST. Nam chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 15/12/2022 và chưa đóng án phí và chưa được xóa án tích (BL: 138; 145, 147). Tiền sự: Không. ( có mặt ). 3/ Võ Văn M P, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh năm: 1992, tại tỉnh Long An. Nơi cư trú: Thôn 1, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước. Số CCCD: 0070092008981, do Cục CSQLHC về TTXH cấp. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không, Trình độ học vấn: 05/12. Họ và tên cha: Võ Văn Đ, Họ và tên mẹ: Đoàn Thị T Họ và tên vợ: Điểu Thị D M, Bị cáo có 03 người con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2022. Bị cáo có 02 anh em ruột, Bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2023 đến nay. Tiền án, tiền sự: Không. ( có mặt ) 4/ Phạm Minh T, tên gọi khác: Không, giới tính: Nam, sinh năm: 1990, tại tỉnh Trà Vinh. Nơi cư trú: Thôn 6, xã Đi, huyện Bg, tỉnh Bình Phước. Số CCCD: 084090007449, do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 21/9/2021. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không, Trình độ học vấn: 09/12. Họ và tên cha: Phạm Chí D, Họ và tên mẹ: Hồng Thị V, Họ và tên vợ: Lê Thị C M, Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2018 và sinh năm 2021. Bị cáo có 03 chị em ruột, Bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày từ ngày 26/7/2023 đến nay. Tiền án, tiền sự: Không. ( có mặt ). Những ngƣời tham gia tố tụng: Ngƣời bị hại: 2.1/ Nguyễn Minh H; sinh năm 1988 ( vắng mặt ). Địa chỉ: Thôn H , xã T, huyện Bg, Bình Phước 2.2/ Huỳnh Văn T; sinh năm 1975 ( vắng mặt ). Địa chỉ: Khu Đức Hòa, thị trấn Đ P, huyện B, 2.3/ Phạm Văn C; sinh năm 1979 ( có mặt ). Địa chỉ :Khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước 2.4/ Nguyễn Văn N; sinh năm 1976( vắng mặt ). Địa chỉ :Khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước 2.5/ Nông Văn N; sinh năm 1970 ( có mặt ). Địa chỉ: Thôn 4, xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước 2.6/ Đào Văn T; sinh năm 1986( vắng mặt ). Địa chỉ : Khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước 2.7/ Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1963( vắng mặt ). Địa chỉ: Thôn 4, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước 2.8/ Bùi Thị Đ; sinh năm 1960 ( có mặt ). Địa chỉ : Thôn 2, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. 2.9/ Trần Quang T; sinh năm 1987( vắng mặt ). Địa chỉ : Thôn Thống Nhất, xã Đ, huyện Bg, tỉnh Bình Phước. 2.10/ Lê Quang N; sinh năm 1991( vắng mặt ). Địa chỉ: Thôn 6, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước 2.11/ Chu Thị Mai L; sinh năm 1999( vắng mặt ). Địa chỉ: Khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước. 2.12/ Giang Công T: sinh năm 1986 ( có mặt ). Địa chỉ: Thôn 4, xã Đ K, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1/Lê Minh M; sinh năm 1986 ( vắng mặt ) Địa chỉ: Thôn 4, xã Đi, huyện Bg, tỉnh Bình Phước. 2/Nguyễn Thị Bích N; sinh năm 1994 ( có mặt ) Địa chỉ: Thôn 1, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :

1/Về hành vi phạm tội của bị cáo : Khoảng 02 giờ sáng ngày 24/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Võ Văn M P, tìm nhà nào sơ hở thì sẽ đột nhập vào trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài thì Phương đồng ý. Sau đó, Phương điều khiển xe mô tô Yamaha, loại Exiter, màu đỏ - đen, biển số: 93L1-076.13 chở Nam ngồi phía sau đi trên đường QL14 hướng từ xã M g, huyện B đi xã Phú Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước. Khi đến, khu vực Thôn H , xã T, huyện Bg, phát hiện nhà của anh Nguyễn Minh H không có ai ở nhà nên Nam phân công Phương ở ngoài cảnh giới cho Nam vào lấy trộm tài sản thì Phương đồng ý. Sau đó, Nam đi vòng ra bên hông luồn tay vào trong mở chốt cửa ra rồi đi vào nhà. Tại đây, Nam tìm kiếm trong tủ nhựa ở phòng ngủ lấy được số tiền mặt là: 2.175.000 đồng và bỏ vào túi xách rằn ri mang trên người. Sau đó, Nam lục tìm thì thấy trong ngăn kéo của tủ còn có xấp tiền lẻ tổng giá trị là: 2.408.000 đồng nên lấy hết ra bỏ vào một túi nilon để ở khu vực gần nhà vệ sinh với ý định sẽ mang đi sau khi tẩu thoát. Khi Nam đang tiếp tục tìm tài sản thì phát hiện bên ngoài có người về nên đã hoảng sợ bỏ chạy khỏi nhà, không kịp mang theo túi nilon đựng tiền đã trộm để ở khu vực nhà vệ sinh trước đó. Sau đó, Nam bị lực lượng Công an bắt giữ cách hiện trường khoảng 200m. Còn Phương điều khiển xe chạy trốn về hướng xã M g, huyện B , Bình Phước. Đến ngày 25/7/2023, Phương đến Công an huyện Bù Đăng đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Khi bị bắt, lực lượng Công an kiểm tra thu giữ trên người Nam số tiền 2.175.000đ (Hai triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) lấy trộm được từ trong nhà của anh Nguyễn Minh H cùng các công cụ trong túi xách của Nam gồm: 01 cà lê bằng kim loại; 01 khóa điếu bằng kim loại; 01 cái búa bằng kim loại.

Quá trình điều tra, Nguyễn Tiến N còn khai nhận đã thực hiện nhiều vụ trộm khác trên địa bàn huyện Bù Đăng, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 01 giờ ngày 06/6/2023, Nam leo rào đi vào trong nhà ông Huỳnh Văn T, tại khu Đức Hòa, TT. Đ P, huyện B. Tại đây, Nam lục tìm tài sản và lấy được 01 máy tính xách tay hiệu Macbook, màu xám để trên bàn học ở đường luồng xuống bếp. Do không phá được mật khẩu máy tính nên khoảng 02 ngày sau, Nam đưa lại cho một người đàn ông tên Hưng (chưa rõ nhân thân, lý lịch) sử dụng.

Vụ thứ 2: Vào khuya ngày 11/6/2023 đến rạng sáng ngày 12/6/2023, Nam đi bộ từ khu vực thôn 1, xã M g, huyện B lên hướng thị trấn Đ P, huyện B. Phát hiện nhà chị Chu Thị Mai L, tại khu Đức Lập, không có ai ở nhà. Nam đi vòng ra phía sau rồi mở cửa đi vào trong nhà, lục tìm tài sản và lấy được số vàng tổng cộng gồm: 02 (hai) nhẫn vàng 18K tổng trọng lượng khoảng 01 chỉ; 01 (một) lắc tay 18k trọng lượng 0,5 chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 18k. Nam tiếp tục đi bộ sang nhà của ông Phạm Văn C gần đó, mở cửa trước đi vào nhà thì thấy trong phòng khách có 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, màu đen, biển số: 93L1 – 343.41 đang cắm sẵn chìa khóa trên xe nên dắt bộ chiếc xe mô tô này ra đường rồi khởi động xe và điều khiển đi về. Sợ bị phát hiện nên Nam tháo biển số vứt xuống đập nước “Bù Ra Mang” thuộc thôn 1, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước. Sau đó, Nam nói cho Điểu H biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô rồi nhờ Hiếu tìm nơi bán xe. Nghe vậy, Hiếu đồng ý rồi cùng Nam mang chiếc xe mô tô đã trộm được đi đến ngã 4 xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng bán cho một người tên Tùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.800.000 đồng. Nam chia cho Hiếu số tiền 1.300.000 đồng. Còn lại 1.500.000 đồng, Nam tiêu xài cá nhân hết. Đối với số vàng mà Nam trộm được tại nhà chị Chu Thị Mai L, Nam đem bán tại nhiều nơi thuộc TP.Đồng Xoài (không rõ địa điểm cụ thể) và đã tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 3: Trưa ngày 16/6/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ nhà thuộc thôn 1, xã M g, huyện B lên xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng với mục đích tìm nhà nào sơ hở thì sẽ đột nhập vào trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến đoạn gần trường Tiểu học Đoàn Kết, Nam phát hiện nhà anh Giang Công T thuộc thôn 3, xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng không có ai ở nhà, nên Nam mở cửa sau vào nhà lấy trộm số tiền 11.000.000 đồng.

Vụ thứ 4: Vào khoảng 5 giờ 30 phút ngày 18/6/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ nhà thuộc thôn 1, xã Minh Hưng lên chợ Bù Đăng mua bánh mì về khu vực bờ đập nước “Bù Ra Mang” ăn. Trên đường đi, Nam ghé quán tạp hóa trên đường Nguyễn Thị Minh Khai của ông Nguyễn Văn N, thuộc khu Đức Lập, TT. Đ P, huyện B mua đồ nhưng không có ai nên đã nảy sinh ý định vào tiệm tìm tài sản để trộm cắp. Nam phát hiện bên trong tủ nhựa có nhiều thẻ nạp tiền điện thoại di động gồm: 02 thẻ nạp tiền điện thoại Vinaphone loại có mệnh giá 50.000 đồng; 04 thẻ nạp tiền điện thoại Viettel loại có mệnh giá 50.000 đồng và 04 thẻ nạp tiền điện thoại Viettel loại có mệnh giá 20.000 đồng. Nam gom hết số thẻ này bỏ vào trong túi quần, sau đó, đem bán cho một người đàn ông không rõ lai lịch mà Nam gặp trên đường được số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 5: Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/7/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ nhà thuộc thôn 1, xã M g, huyện B đến xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng rồi rẽ vào đường Ngã ba Bãi Cháy. Khi Nam đi đến đoạn đường thuộc thôn 4, xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng thì thấy nhà ông Nông Văn N không có ai ở nhà, nên đột nhập vào trong, lấy trộm số tiền 3.800.000 đồng rồi lấy xe và đi về nhà.

Vụ thứ 6: Khoảng 15 giờ ngày 14/7/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ thôn 1, xã Minh Hưng, lên thị trấn Đ P, huyện B. Khi đến đường Nguyễn Thị Minh Khai, thuộc khu Đức Lập, TT. Đ P, huyện B, Nam quan sát thấy nhà anh Đào Văn T, không có ai ở nhà nên leo rào đột nhập vào nhà, lấy trộm 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, màu đen đang cắm sạc trên bàn học, rồi ra điều khiển xe đi về nhà. Do máy tính cài mật khẩu nên Nam chưa sử dụng được. Sau đó, lực lượng Công an đã thu giữ máy tính trên trong quá trình khám xét khẩn cấp nhà của Nam.

Vụ thứ 7: Khoảng 04 giờ ngày 13/7/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ nhà thuộc thôn 1, xã Minh Hưng vào xã Bình Minh, huyện Bù Đăng với mục đích tìm nhà nào sơ hở thì sẽ đột nhập vào trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến đoạn gần cổng chào thôn 4, xã Bình Minh, Nam phát hiện nhà ông Nguyễn Văn Đ, không có ai ở nhà nên leo rào đột nhập vào trong nhà. Tại đây, Nam tìm kiếm và lấy được 02 nhẫn vàng loại “9999”, 01 xe mô tô loại Yamaha, hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển số: 61H1-230.51, chìa khoá xe mô tô và cả chìa khoá nhà. Sau đó, Nam mở các cửa nhà rồi điều khiển xe mô tô trên đi về nhà Điểu H, nói cho Hiếu biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô và cần Hiếu cùng Nam quay lại lấy chiếc xe Exciter, màu đỏ - đen. Hiếu đồng ý. Khi đến nơi, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen, còn Hiếu điều khiển xe mô tô trộm được đi về khu vực bờ đập nước “Bù Ra Mang” thuộc thôn 1, xã Minh Hưng. Tại đây, Nam tháo bỏ biển số: 61H1-230.51 vứt xuống nước và giao xe mô tô cho Hiếu để tìm chỗ bán thì Hiếu đã mang xe về nhà tháo từng bộ phận ra rồi bán cho một người mua “ve chai” (chưa rõ nhân thân lý lịch) được 2.000.000 đồng. Nam và Hiếu chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Đối với 02 nhẫn vàng, Nam đã đem bán bán lấy tiền tiêu xài nhưng do đã lâu nên không nhớ bán ở đâu và được bao nhiêu tiền.

Vụ thứ 8: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) đi từ nhà thuộc thôn 1, xã Minh Hưng đến xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng để trộm cắp tài. Khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đến đoạn gần Ngã ba Sao Bọng thuộc thôn 2, xã Đức Liễu, phát hiện nhà bà Bùi Thị Đ, không có ai ở nhà nên đột nhập vào trong nhà, lấy được 01 nhẫn vàng loại 18k trọng lượng 02 chỉ; số tiền 8.500.000 đồng; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen, biển số: 93L1 – 328.22, Nam dắt xe mô tô vừa trộm được, ra bãi đất trống gần đó cất giấu rồi điều khiển xe mô tô Exciter, chạy về nhà Điểu H, nói cho Hiếu biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô và cần Hiếu cùng Nam quay lại đưa xe về, Hiếu đồng ý rồi đi cùng Nam. Hiếu điều khiển xe mô tô Exciter, còn Nam điều khiển xe mô tô trộm được đi về nhà Nam tháo bỏ biển số: 93L1 – 328.22 để ở nhà. Sang ngày hôm sau, Nam liên hệ cho Phạm Minh T ở thôn 6, xã Đi, huyện Bg bán chiếc xe mô tô trộm được trên, Trường biết xe do Nam trộm cắp nhưng vẫn mua với giá 3.500.000 đồng. Nam đem tiền về chia cho Hiếu 1.500.000 đồng. Đối với 01 nhẫn vàng, Nam đem mang bán ở một tiệm vàng tại TP.Đồng Xoài được 2.200.000 đồng nhưng do đã lâu nên Nam không nhớ cụ thể tiệm nào. Nam và Hiếu tiêu xài cá nhân hết số tiền.

Vụ thứ 9: Khoảng 23 giờ ngày 21/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Điểu H đi trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài thì Hiếu đồng ý. Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen (Nam gắn biển số giả) chở Hiếu đi vào hướng xã Đắk Nhau, huyện Bù Đăng. Khi đi qua đoạn Ngã ba Nùng khoảng 20m, Nam và Hiếu thấy bên trái đường có nhà của anh Trần Quang Trực, không có ai ở nhà. Lúc này, Nam nói Hiếu đứng ngoài cảnh giới để Nam vào nhà trộm tài sản thì Hiếu đồng ý. Sau đó, Nam kéo chốt cửa sắt vào trong nhà và lấy trộm 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đen, biển số: 93L1 – 076.13 của anh Trần Xuân Hiền rồi cùng với Hiếu tẩu thoát. Sang ngày hôm sau, Nam tháo biển số: 93L1 – 076.13 của xe mô tô đã trộm được gắn vào xe mô tô Exciter, đồng thời nhờ Võ Văn M P, đi cùng để điều khiển chiếc xe mô tô đã lấy trộm đem đi bán thì Phương đồng ý. Sau đó, Nam và Phương đến nhà anh Lê Minh M, ở thôn 6, xã Đi, huyện Bg bán xe mô tô đã trộm trên cho ông Mẫn được 1.500.000 đồng. Nam chia cho Điểu H 1.000.000 đồng và giữ lại 500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Vụ thứ 10: Khoảng 01 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Võ Văn M P cùng nhau đi trộm cắp tài sản mang bán lấy tiền tiêu xài thì Phương đồng ý. Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen gắn biển số: 93L1 – 076.13 chở Phương đi về hướng Cầu sông Lấp đoạn thuộc xã M g, huyện B . Khi đến cầu, Nam để Phương ở lại ngồi chơi còn Nam nói đi kiếm trái cây ăn, tý mới đi trộm cắp tài sản. Sau đó, Nam đi vào một hẻm đường nhựa gần đó thấy nhà anh Lê Quang N, ở thôn 6, xã M g, huyện B không có ai ở nhà nên mở chốt cửa bếp đi vào nhà, lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad cùng 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc. Nam cất hết các tài sản này vào túi xách mang theo rồi rời khỏi hiện trường quay về Cầu sông Lấp đón Phương đi lên xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ cùng ngày, khi trộm tài sản của nhà anh Nguyễn Minh H và bị phát hiện, Nam đã vứt bỏ iPad trong lúc bỏ chạy. Khi lực lượng Công an bắt quả tang Nam đã kiểm tra và thu giữ được chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc trên.

Tại kết luận định giá số: 47/KL-ĐG ngày 27/7/2023 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/6/2023 tại khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha biển số: 93L1 – 343.41 có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 9.500.000 đồng .

Tại kết luận định giá số: 49/KL-ĐG ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 17/7/2023 tại thôn 2, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, biển số: 93L1 – 328.22 có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 9.500.000 đồng.

Tại kết luận định giá số: 50/KL-ĐG ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Tố tụng hình sự của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Bù Đăng đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 14/7/2023 tại khu Đức Lập, thị trấn Đ P, huyện B, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 laptop hiệu Dell Inspiron 3543 I3-5005U màu đen có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 3.100.000 đồng.

Tại kết luận định giá số: 51/KL-ĐG của Hội đồng định giá trong tố tụng huyện Bù Đăng đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 20/7/2023 tại thôn Thống Nhất, xã Đăk Nhau, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, biển số: 93L1 –076.13 có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 6.500.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số: 52/KL – ĐG ngày 01/08/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng xác định: 01 Laptop hiệu Macbook, màu xám, mua vào khoảng năm 2022, giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 4.900.000 đồng.

Tại kết luận định giá số: 53/KL-ĐG ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Tố tụng hình sự, đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/7/2023 tại thôn 6, xã M g, huyện B , tỉnh Bình Phước kết luận: 01 máy Ipad màu trắng bạc có giá trị 600.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57 128Gb màu xanh, có giá trị 3.600.000 đồng. có tổng giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 4.200.000 đồng.

Tại kết luận định giá số: 54/KL-ĐG ngày 01/8/2023 của Hội đồng định giá trong tố tụng Tố tụng hình sự đối với vụ Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 13/7/2023 tại thôn 4, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, mang BKS 61H1-230.51 có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 3.800.000 đồng (BL: 55).

Tại Kết luận định giá tài sản số: 76/KL – ĐG ngày 16/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Bù Đăng xác định: * 02 nhẫn vàng 18K tổng trọng lượng khoảng 01 chỉ, mua với giá là 4.222.000 đồng; 01 lắc tay 18k trọng lượng 0,5 chỉ, có giá trị 2.111.000 đồng; 01 dây chuyền vàng 18k, trọng lượng 2.5 chỉ, có giá trị 10.555.000 đồng. * 02 nhẫn vàng trơn loại “9999” (24K), mỗi nhẫn có trọng lượng 01 chỉ, có giá trị là 11.240.000 đồng. * 01 nhẫn vàng trang sức loại 18K, trọng lượng 02 chỉ, có giá trị là 8.490.000 đồng. 2/ Các vấn đề khác của vụ án:

- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh điều tra – Công an huyện Bù Đăng đã xử lý: *Số tiền 4.583.000 đồng trả lại cho anh Nguyễn Minh H. * 01 xe mô tơ nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen và 01 (Một) biển số: 93L1 – 076.13 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Xuân Hiển. * 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave và 01 biển số: 93L1 – 328.22, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Bùi Thị Đ (BL: 223) * 01 laptop hiệu Dell Inspiron màu đen trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Văn T. *01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc trả lại cho anh Lê Quang N. *01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số: 93M1-316.87 trả lại cho anh Nguyễn Thế Sơn. * 01 túi đeo chéo có hoa văn rằn ri; 01 cà lê bằng kim loại; 01 khóa điếu bằng kim loại và 01 cái búa bằng kim loại chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ công tác truy tố, xét xử.

- Về trách nhiệm dân sự: Đối với các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác.

Còn lại các bị hại Nông Văn N yêu cầu bồi thường 3.800.000 đồng, Giang Công T yêu cầu bồi thường 11.000.000 đồng, bà Bùi Thị Đ yêu cầu bồi thường 16.990.000 đồng, chị Chu Thị Mai L yêu cầu bồi thường 16.888.000 đồng, ông Huỳnh Văn T yêu cầu bồi thường 4.900.000 đồng, Ông Phạm Văn C yêu cầu bồi thường 9.500.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ yêu cầu bồi thường 15.040.000 đồng và anh Lê Quang N yêu cầu bồi thường 600.000 đồng, Nguyễn Tiến N và Điểu H chưa bồi thường cho các bị hại trên.

Tại Bản cáo trạng số 153 /CT – VKS ngày 13/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Tiến N , về "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Điểu H và Võ Văn M P bị truy tố về "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Điểu H và Phạm Minh T bị truy tố về "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật đối với các bị cáo như sau:

Về tội danh và hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N , phạm "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Điểu H và Võ Văn M P phạm "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Điểu H và Phạm Minh T phạm "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, 17, 58, 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N từ 4 đến 5 năm tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51,17, 58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn M P từ 07 đến 10 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 17, 58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Điểu H từ 18 đến 24 tháng tù.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Điểu H từ 12 đến 15 tháng tù.

Áp dụng điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt đối với Điểu H tù 30 đến 39 tháng tù.

Về vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Ý kiến về Quyết định truy tố: Các bị cáo đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo đều xin giảm nhẹ hình phạt, ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: 1/ Về hành vi, quyết định tố tụng của: Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra truy tố thực hiện đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có người nào có ý kiến đề nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. 2/ Xác định tội danh:Ngày 24/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Võ Văn M P đi trộm cắp tài sản thì Phương đồng ý. Sau đó, Phương điều khiển xe mô tô biển số: 93L1-076.13 chở Nam đi, khi đến nhà anh Nguyễn Minh H Thôn H , xã T, huyện Bg, không có ai ở nhà nên Nam phân công Phương ở ngoài cảnh giới, Nam vào nhà lấy trộm được số tiền mặt là: 2.175.000 đồng và bỏ vào túi xách rằn ri mang trên người. Sau đó, Nam lấy được xấp tiền lẻ nữa 2.408.000 đồng và đã bỏ vào một túi nilon để ở khu vực gần nhà vệ sinh với ý định sẽ mang đi sau khi tẩu thoát. sau đó Nam bị phát hiện và bị bắt giữ. Tổng số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt anh Nguyễn Minh H là 4.583.000đ.

Ngoài ra Nguyễn Tiến N còn thực hiện nhiều vụ trộm khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 1 giờ đêm ngày 06/6/2023, Nam vào nhà lấy trộm của ông Huỳnh Văn T, tại khu Đức Hòa, TT. Đ P, huyện B lấy 01 máy tính xách tay hiệu Macbook, màu xám , trị giá là 4.900.000 đồng.

Vụ thứ 2: Đêm ngày 11, rạng sáng ngày 12/6/2023, Nguyễn Tiến N vào nhà chị Chu Thị Mai L, tại khu Đức Lập, TT Đức Phong lấy được 02 (hai) nhẫn vàng 18K tổng trọng lượng khoảng 01 chỉ; 01 (một) lắc tay 18k trọng lượng 0,5 chỉ; 01 (một) dây chuyền vàng 18k. trị giá 16.888.000đ.

Nam tiếp tục đi bộ sang nhà của ông Phạm Văn C gần đó lấy được 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, màu đen, biển số: 93L1 – 343.41.

Sau đó, Nam nói cho Điểu H biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô rồi nhờ Hiếu tìm nơi bán xe. Hiếu đồng ý rồi cùng Nam mang chiếc xe mô tô đã trộm được đi đến ngã 4 xã Thống Nhất, huyện Bù Đăng bán cho một người tên Tùng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) với giá 2.800.000 đồng. Nam chia cho Hiếu số tiền 1.300.000 đồng. Còn lại 1.500.000 đồng, Nam tiêu xài cá nhân hết. Đối với số vàng mà Nam trộm được tại nhà chị Chu Thị Mai L, Nam đem bán tại nhiều nơi thuộc TP.Đồng Xoài (không rõ địa điểm cụ thể) và đã tiêu xài cá nhân hết.

Xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha biển số: 93L1 – 343.41 trị giá là 9.500.000 đồng.

Vụ thứ 3: Trưa ngày 16/6/2023, Nam lấy trộm số tiền 11.000.000 đồng của anh Giang Công T ở xã Đoàn Kết, huyện Bù Đăng.

Vụ thứ 4: Vào sáng ngày 18/6/2023, Nam lấy của ông Nguyễn Văn N, thuộc khu Đức Lập, TT. Đ P, huyện B 02 thẻ nạp tiền điện thoại Vinaphone loại có mệnh giá 50.000 đồng; 04 thẻ nạp tiền điện thoại Viettel loại có mệnh giá 50.000 đồng và 04 thẻ nạp tiền điện thoại Viettel loại có mệnh giá 20.000 đồng.

Vụ thứ 5: Vào chiều ngày 07/7/2023, Nam lấy của ông Nông Văn N số tiền 3.800.000 đồng.

Vụ thứ 6: Khoảng 15 giờ ngày 14/7/2023, Nam lấy của anh Đào Văn T 01 máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, màu đen trị giá 3.100.000 đồng.

Vụ thứ 7: Vào khoảng 4 giờ ngày 13/7/2023, Nam lấy của ông Nguyễn Văn Đ, 02 nhẫn vàng loại “9999”, 01 xe mô tô loại Yamaha, hiệu Sirius màu đỏ - đen, biển số: 61H1-230.51, sau khi lấy được tài sản Nam đi về nhà Điểu H, nói cho Hiếu biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô và cần Hiếu cùng Nam quay lại lấy chiếc xe Exciter, màu đỏ - đen. Hiếu đồng ý. Khi đến nơi, Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen, còn Hiếu điều khiển xe mô tô trộm được đi về khu vực bờ đập nước “Bù Ra Mang” thuộc thôn 1, xã Minh Hưng. Tại đây, Nam tháo bỏ biển số: 61H1-230.51 vứt xuống nước và giao xe cho Hiếu để tìm chỗ bán thì Hiếu đã mang xe về nhà tháo từng bộ phận ra rồi bán cho người mua “ve chai” (chưa rõ nhân thân lý lịch) được 2.000.000 đồng. Nam và Hiếu chia nhau mỗi người 1.000.000 đồng sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. Đối với 02 nhẫn vàng, Nam đã đem bán bán lấy tiền tiêu xài nhưng do đã lâu nên không nhớ bán ở đâu và được bao nhiêu tiền.

Theo kết luận của Hội đồng định giá 02 nhẫn vàng trơn loại “9999” (24K), mỗi nhẫn có trọng lượng 01 chỉ, có giá trị là 11.240.000 đồng.

01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển số: 61H1-230.51 có giá trị tại thời điểm thực hiện tội phạm là 3.800.000 đồng .

Vụ thứ 8: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 16/7/2023, Nam lấy của bà Bùi Thị Đ ở thôn 2, xã Đức Liễu 01 nhẫn vàng loại 18k trọng lượng 02 chỉ; số tiền 8.500.000 đồng; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen, biển số: 93L1 – 328.22, Nam dắt xe mô tô vừa trộm được, ra bãi đất trống gần đó cất giấu rồi điều khiển xe mô tô Exciter, chạy về nhà Điểu H, nói cho Hiếu biết Nam mới lấy trộm được một chiếc xe mô tô và cần Hiếu cùng Nam quay lại đưa xe về, Hiếu đồng ý rồi đi cùng Nam. Hiếu điều khiển xe mô tô Exciter, còn Nam điều khiển xe mô tô trộm được đi về nhà Nam tháo bỏ biển số: 93L1 – 328.22 để ở nhà. Sang ngày hôm sau, Nam liên hệ cho Phạm Minh T ở thôn 6, xã Đi, huyện Bg bán chiếc xe mô tô trộm được trên, Trường biết xe do Nam trộm cắp nhưng vẫn mua với giá 3.500.000 đồng. Nam đem tiền về chia cho Hiếu 1.500.000 đồng. Đối với 01 nhẫn vàng, Nam mang bán ở một tiệm vàng tại TP.Đồng Xoài được 2.200.000 đồng nhưng do đã lâu nên Nam không nhớ cụ thể tiệm nào. Nam và Hiếu tiêu xài cá nhân hết số tiền.

Theo kết luận của Hội đồng định giá 01 nhẫn vàng loại 18k trọng lượng 02 chỉ trị giá 8.490.000đ, xe mô tô hiệu Honda, loại Wave Alpha, màu đen, biển số: 93L1 – 328.22 trị giá 9.500.000đ.

Vụ thứ 9: Khoảng 23 giờ ngày 21/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Điểu H đi trộm cắp tài sản thì Hiếu đồng ý. Khi đến nhà anh Trần Quang Trực, tại Thôn Thống Nhất, xã Đăk Nhau, huyện Bù Đăng, Hiếu đứng ngoài cảnh giới, Nam vào nhà trộm tài sản, lấy trộm 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đen, biển số: 93L1 – 076.13, xe đứng tên anh Trần Xuân Hiền rồi cùng với Hiếu tẩu thoát. Sang ngày hôm sau, Nam tháo biển số: 93L1 – 076.13 của xe mô tô đã trộm được gắn vào xe mô tô Exciter, đồng thời nhờ Võ Văn M P điều khiển chiếc xe mô tô đã lấy trộm đem đi bán thì Phương đồng ý ( Phương không biết tài sản do trộm cắp mà có, nam cũng không nói tài sản trộm cắp. Sau đó, Nam và Phương đến nhà anh Lê Minh M, ở thôn 6, xã Đi, huyện Bg bán xe mô tô đã trộm trên cho ông Mẫn được 1.500.000 đồng. Nam chia cho Điểu H 1.000.000 đồng và giữ lại 500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. ông Mẫn không biết tài sản do trộm cắp mà có.

Theo kết luận của Hội đồng định giá, 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đen, biển số: 93L1 – 076.13 trị giá 6.500.000đ.

Vụ thứ 10: Khoảng 01 giờ ngày 24/7/2023, Nguyễn Tiến N rủ Võ Văn M P cùng nhau đi trộm cắp tài sản thì Phương đồng ý. Nam điều khiển xe mô tô Exciter, màu đỏ - đen gắn biển số: 93L1 – 076.13 chở Phương đi về hướng Cầu sông Lấp đoạn thuộc xã M g, huyện B . Khi đến cầu, Nam để Phương ở lại ngồi chơi còn Nam nói đi kiếm trái cây ăn, tý mới đi trộm cắp tài sản. Sau đó, Nam đi vào một hẻm đường nhựa gần đó thấy nhà anh Lê Quang N, ở thôn 6, xã M g, huyện B không có ai ở nhà nên mở chốt cửa bếp đi vào nhà, lấy trộm 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad cùng 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc. Nam cất hết các tài sản này vào túi xách mang theo rồi rời khỏi hiện trường quay về Cầu sông Lấp đón Phương đi lên xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng tiếp tục tìm tài sản để trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ cùng ngày, khi trộm tài sản của nhà anh Nguyễn Minh H và bị phát hiện, Nam đã vứt bỏ iPad trong lúc bỏ chạy. Khi lực lượng Công an bắt quả tang Nam, kiểm tra và thu giữ được chiếc điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc trên.

Theo kết luận của Hội đồng định giá, 01 máy tính bảng hiệu Apple iPad trị giá 600.000đ, 01điện thoại di động hiệu OPPO A57, 128Gb, màu xanh, trị giá 3.600.000đ. Như vậy bị cáo Nguyễn Tiến N đã lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại trị giá tổng cộng số tiền 106.381.000đ.

Võ Văn M P tham gia cùng Nguyễn Tiến N đã lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Nguyễn Minh H số tiền 4.583.000đ.

Điểu H tham gia cùng Nguyễn Tiến N lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại Trần Quang Ttrị giá số tiền 6.500.000đ.

Điểu H chứa chấp và tiêu thụ tài sản do Nguyễn Tiến N phạm tội mà có, cụ thể tiêu thụ tài sản xe của ông Phạm Văn C, trị giá 9.500.000đ, tiêu thụ tài sản xe của ông Nguyễn Văn Đ trị giá 3.800.000đ.Điểu H chứa chấp tài sản của bà Bùi Thị Đ trị giá 9.500.000đ.

Phạm Minh T tiêu thụ tài sản do Nguyễn Tiến N phạm tội mà có, cụ thể tiêu thụ xe của bà Bùi Thị Đ trị giá 9.500.000đ.

Các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình. Võ Văn M P, Điểu H đồng phạm, giúp sức cho Nguyễn Tiến N .

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị các cáo làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Hậu quả bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của bị hại.

Vì vậy hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo Nguyễn Tiến N đã phạm

vào "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Điểu H và Võ Văn M P phạm "Tội trộm cắp tài sản", quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; bị cáo Điểu H phạm "Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phạm Minh T phạm "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. 3/ Các tình tiết tặng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các tình tiết tặng nặng: Bị cáo Nguyễn Tiến N có tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần và tái phạm theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Điểu H phạm tội "Trộm cắp tài sản' có tình tiết tăng nặng tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, đối với "Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" thì bị cáo Hiếu có tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần và tái phạm theo điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các tình tiết giảm nhẹ : Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Nguyễn Tiến N có tình tiết giảm nhẹ đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Bị cáo Võ Văn M P, và Phạm Minh T phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Ngoài ra bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo,Bị cáo Điểu H người đồng bào dân tộc thiểu số nhận thực còn hạn chế.

Sau khi xem xét hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo ( nhân thân bị cáo Võ Văn M P là người nghiện ma túy), Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý nghiêm, phù hợp hành vi phạm tội của các bị cáo để răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. 4/ Về trách nhiệm dân sự: Đối với các bị hại Nguyễn Minh H, Đào Văn T,Trần Quang Tđã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không xem xét. Anh Huỳnh Văn T, anh Lê Quang N, anh Lê Minh M không yêu cầu bị cáo bồi thường lại tài sản nên không xem xét.

Các bị hại còn lại yêu cầu bị cáo đã chiếm đoạt phải bồi thường lại số tiền, cụ thể anh Nông Văn N 3.800.000 đồng, anh Giang Công T 11.000.000 đồng, bà Bùi Thị Đ 16.990.000 đồng, chị Chu Thị Mai L 16.888.000đồng, anh Phạm Văn C 9.500.000đồng, ông Nguyễn Văn Đ 15.040.000đồng, anh Nguyễn Văn N 380.000 đồng.

Tại phiên tòa gia đình của bị cáo Nam là chị Nguyễn Thị Bích N có sự tác động của bị cáo Nam đã bồi thường cho bị hại anh Nông Văn N 2.000.000 đồng, anh Giang Công T 5.000.000đ, ông Phạm Văn C 5.500.000đồng, bà Bùi Thị Đ 8.000.000 đồng, anh Nông Văn N, anh Phạm Văn C không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại. Anh Giang Công T yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại 6.000.000đ, bà Bùi Thị Đ 8.990.000đ.

Vì vậy cần buộc bị cáo Nguyễn Tiến N bồi thường số tiền cho các bị hại, cụ thể: Anh Giang Công T 6.000.000đ, bà Bùi Thị Đ 8.990.000đ, chị Chu Thị Mai L 16.888.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ 15.040.000đồng, anh Nguyễn Văn N 380.000 đồng. 5/ Về vật chứng: Cơ quan Cảnh điều tra – Công an huyện Bù Đăng đã xử lý trả lại cho các bị hại và người liên quan gồm có: * Số tiền 4.583.000 đồng trả lại cho anh Nguyễn Minh H . * 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đen và 01 (Một) biển số: 93L1 – 076.13 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Xuân Hiển. * 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave và 01 biển số: 93L1 – 328.22, trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Bùi Thị Đ. * 01 laptop hiệu Dell Inspiron màu đen trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đào Văn T. * 01 điện thoại di động hiệu OPPO A57 màu xanh ngọc trả lại cho anh Lê Quang N. * 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter, biển số: 93M1-316.87 trả lại cho anh Nguyễn Thế Sơn. Các bị hại và người liên quan không ai có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với vật chứng 01 túi đeo chéo có hoa văn rằn ri; 01 cà lê bằng kim loại; 01 khóa điếu bằng kim loại và 01 cái búa bằng kim loại, bị cáo Nam dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Tổng số tiền bị cáo Điểu H thu lợi bất chính 4.800.000đ ( Nam đưa cho Hiếu) nên cần buộc nộp sung quỹ nhà nước. 6/Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tiến N , Điểu H, Võ Văn M P, Phạm Minh T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST.

Án phí dân sự sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tiến N có nghĩa vụ bồi thường cho các bị hại tổng số tiền còn lại 47.298.000đ nên số tiền án phí là: 47.298.000đ x5% = 2.364.900đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến N , Điểu H và Võ Văn M P phạm "Tội trộm cắp tài sản", bị cáo Điểu H phạm "Tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", bị cáo Phạm Minh T phạm "Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, 17, 58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến N 4 năm 6 tháng tù ( Bốn năm sáu tháng tù), thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51,17,58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn M P từ 07(bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 25/7/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, 17, 58, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Điểu H 1 năm 6 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Điểu H 1 năm tù.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt chung đối với Điểu H là 2 năm 6 tháng tù ( hai năm sáu tháng tù ), thời hạn tù tính từ ngày 24/7/2023.

Áp dụng khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (12/01/2024), giao bị cáo về UBND xã xã Đi, huyện Bg, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. 2/ Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Tiến N bồi thường cho các bị hại và số tiền như sau: Anh Giang Công T 6.000.000đ, bà Bùi Thị Đ 8.990.000đ, chị Chu Thị Mai L 16.888.000 đồng, ông Nguyễn Văn Đ 15.040.000đồng, anh Nguyễn Văn N 380.000 đồng. 3/ Về vật chứng, áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên: Tịch thu tiêu hủy 01 túi đeo chéo có hoa văn rằn ri; 01 cà lê bằng kim loại; 01 khóa điếu bằng kim loại và 01cái búa bằng kim loại. (Biên bản giao nhận ngày 22/11/2023). Buộc bị cáo Điểu H nộp sung quỹ nhà nước số tiền 4.800.000đ. 4/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ - UBTVQH Ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí của Toà án, buộc bị cáo Nguyễn Tiến N , Điểu H, Võ Văn M P, Phạm Minh T, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST. Án phí dân sự sơ thẩm, buộc bị cáo Nguyễn Tiến N nộp số tiền án phí là: 2.364.900đ. 5/Quyền kháng cáo: Bị cáo, Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích lục bản án hoặc bản sao bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.

Cỡ chữ