vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về con chung: Giao con chung Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Trần Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình Hằng +Vinh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H được ly hôn với anh Trần Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NẬM NHÙN
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2024
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NẬM NHÙN, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Lý Đức Hiệp

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Đặng Văn Phú

2. Bà: Lò Thị Doanh

- Thư ký phiên tòa: Bà: Thào Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tham gia phiên tòa: Ông Đặng Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 12/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 10/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự sau:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thu H, Sinh năm 1990.

Địa chỉ: Bản Nậm Ty, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Có mặt tại phiên tòa)

2. Bị đơn: Anh Trần Văn V, Sinh năm 1986.

Địa chỉ: Bản Nậm Ty, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu.

(Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 05/01/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn V đến với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Lạc, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ vào ngày 31/10/2011. Sau khi kết hôn, chị và anh V chung sống hòa thuận hạnh phúc nhưng đến năm 2022 thì cuộc sống vợ chồng thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh V có biểu hiện chơi bời, rượu chè không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên về nhà đe dọa đánh đập và chửi bới, ghen tuông chị một cách vô cớ, làm ảnh hưởng đến tình cảm gia đình và việc nuôi dạy con. Mặc dù chị và gia đình hai bên nội ngoại cũng đã nhiều lần khuyên bảo để anh V có cơ hội thay đổi nhưng không có kết quả. Chị xét thấy bản thân không thể tiếp tục nhẫn nhịn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về con chung: Chị và anh Trần Văn V có 01 con chung tên là Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012. Nguyện vọng của chị H là được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi) và không yêu cầu anh V phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trần Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Theo các lời khai có trong hồ sơ, bị đơn anh Trần Văn V trình bày:

Anh và chị Trần Thu H về chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đồng Lạc, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ vào ngày 31/10/2011. Việc kết hôn giữa anh và chị H là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc. Đến năm cuối 2022 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã to tiếng với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh V thỉnh thoảng có đi uống rượu say nên khi về nhà anh có những lời lẽ chửi bới và to tiếng với chị. Nhưng chỉ khi say rượu anh mới không làm chủ được bản thân nên mới sảy ra sự việc như vậy còn những lúc bình thường thì vợ chồng vui vẻ, hạnh phúc. Việc chị H đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, quan điểm của anh V không nhất trí vì anh vẫn còn tình cảm với chị H, mong muốn Tòa án xem xét, hòa giải cho anh và chị H đoàn tụ để vợ chồng cùng nhau chung sống nuôi dạy con cái trưởng thành. Trường hợp phải ly hôn anh có nguyện vọng giao con chung Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 cho chị H nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Về tài sản chung, nợ chung anh cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, anh Trần Văn V đã có văn bản trả lời Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án và được Tòa án triệu tập đến làm việc, đã có biên bản lấy lời khai. Tuy nhiên quá trình về sau anh V không đến Toà án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa án mặc dù đã được triệu tập hợp lệ.

* Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thu H vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V và giải quyết về việc nuôi con chung theo nội dung đơn ly hôn của chị H đã trình bày.

* Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng và giải quyết vụ án cụ thể như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền thụ lý vụ án; thụ lý đơn yêu cầu ly hôn; việc xác định quan hệ tranh chấp và tư cách của đương sự trong vụ án; việc ra và gửi Thông báo thụ lý cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử cùng hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và Thư ký: Tại phiên tòa hôm nay Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa thực hiện đúng, đảm bảo quyền nghĩa vụ theo Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự (vắng mặt tại các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn cố tình vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Chị Trần Thu H được ly hôn với anh Trần Văn V.

Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Trần Thu H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ18 tuổi).

Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị Trần Thu H không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Do chị Trần Thu H và anh Trần Văn V không yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết

Về án phí: Nguyên đơn chị Trần Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Căn cứ đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo của nguyên đơn, xét yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thu H là hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật nên cần chấp nhận. Toà án xác định đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn”.

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Văn V có đăng ký tạm trú tại bản Nậm Ty, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về điều luật áp dụng: Chị H và anh V kết hôn năm 2011 nên Toà án sẽ áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để xem xét tính hợp pháp của quan hệ hôn nhân và áp dụng các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết vụ án.

Về việc vắng mặt đương sự: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 175, Điều177 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc anh Vinh không thực hiện quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự là do anh V đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Ngày 03/5/2024, chị Trần Thu H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Ngày 28/5/2024 Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn đã tiến hành mở phiên tòa lần thứ nhất, mặc dù được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, anh V tiếp tục vắng mặt lần thứ hai mà không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt đối với bị đơn anh Trần Văn V.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời trình bày của chị Trần Thu H và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H và anh Trần Văn V tự nguyện kết hôn được UBND xã Đồng Lạc, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 31/10/2011. Do vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh V là hợp pháp. Theo lời khai của chị H và đơn xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn xác nhận cho thấy: Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn là do anh V chơi bời, rượu chè không chịu tu chí làm ăn, thường xuyên về nhà đe dọa đánh đập và chửi bới, ghen tuông chị một cách vô cớ, làm ảnh hưởng đến tình cảm gia đình và việc nuôi dạy con. Mặc dù chị và gia đình hai bên nội ngoại cũng đã nhiều lần khuyên bảo để anh V có cơ hội thay đổi nhưng không có kết quả. Việc mâu thuẫn giữa vợ chồng chị hàng xóm, láng giềng đều biết nhưng chưa có lần nào phải yêu cầu đến lãnh đạo bản, lãnh đạo xã đứng ra can thiệp hay tổ chức hòa giải. Nay chị xét thấy bản thân không thể tiếp tục nhẫn nhịn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nậm Nhùn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn V.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh V vắng mặt tại các phiên họp Kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như vắng mặt phiên tòa xét xử không có lý do. Điều này thể hiện sự không thiện chí trong việc hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, cũng như việc tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình của bị đơn.

Hội đồng xét xử nhận thấy: Để đảm bảo quyền lợi cho chị Trần Thu H và giải phóng cho chị khỏi cuộc sống hôn nhân khi mà anh V không thể đem lại hạnh phúc cho chị, mâu thuẫn gia đình ngày càng trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Chị Trần Thu H và anh Trần Văn V có 01 con chung tên là Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012. Hiện nay cháu H đang ở với chị H tại bản Nậm Ty, xã Nậm Hàng, huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu H và anh V cũng có nguyện vọng là giao cháu H cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu H trưởng thành (đủ 18 tuổi). Tính đến thời điểm giải quyết vụ án, cháu Trần Thu H đã trên 7 tuổi (12 tuổi). Tại văn bản trình bày nguyện vọng của cháu H gửi cho Tòa án và Biên bản ghi nhận ý kiến của con chung tại Tòa án thì cháu đều thể hiện sự mong muốn của mình là được ở với mẹ vì cháu là con gái nên cần có mẹ để chia sẻ và mẹ cũng sẽ có thời gian quan tâm, chăm sóc cháu tốt hơn.

Hội đồng xét xử xét thấy: Con chung là cháu Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 hiện đang ở với chị H được chăm sóc đầy đủ và phát triển khỏe mạnh về thể chất lẫn tinh thần. Chị H hiện đang là lao động tự do (kinh doanh buôn bán tại nhà), có nơi cư trú ổn định, thu nhập khoảng 6.000.000 đồng/tháng và có điều kiện về mặt thời gian để trực tiếp chăm sóc con chung. Tại biên bản lấy lời khai của chị H và anh V đều có chung nguyện vọng là để cháu H cho chị H được trực tiếp nuôi dạy và cháu H cũng có ý kiến thể hiện sự mong muốn của mình là được ở với mẹ. Do đó, căn cứ vào Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu giải quyết về con chung của chị H và anh V: Giao con chung cháu Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Trần Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh V có quyền đi lại, thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thu H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xét quan điểm giải quyết vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nậm Nhùn tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, 35; 39; khoản 4 Điều 147 điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thu H được ly hôn với anh Trần Văn V.

2. Về con chung: Giao con chung Trần Thu H, sinh ngày 26/4/2012 cho chị Trần Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi). Anh Trần Văn V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thu H không yêu cầu anh Trần Văn V phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

5. Về án phí: Chị Trần Thu H phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Ký hiệu BLTU/23 số 0000462 ngày 12/01/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Chị Trần Thu H đã nộp đủ án phí HNGĐ-ST.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/6/2024). Bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ