- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn đơn Lý Thị L, bị đơn Lương Văn Ch"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ - ST Ngày 17 - 01 - 2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đỗ Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Văn Khiếu;
2. Bà Triệu Thị Thủy Hoàn.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông L Văn Tầm - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Yên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ L số: 221/2023/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 101/2023/QĐST - HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 35/2023/TB-XX ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lương Thị L, sinh năm 1998
Trú tại: Thôn Kh, xã M huyện LY, tỉnh YB; Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Lương Văn Ch, sinh năm 1993
Trú tại: Thôn Kh, xã M huyện LY, tỉnh YB; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 02 tháng 10 năm 2023 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Lương Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Lương Văn Ch kết hôn ngày 14 tháng 7 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Minh Chuẩn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Quá trình Ch sống hạnh phúc, đến tháng 12 năm 2021 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Ch không quan tâm đến chị L dẫn đến cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã. Chị L và anh Ch hiện tại sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay, không quan tâm đến nhau nữa. Chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị L được ly hôn với anh Lương Văn Ch.
Về con Ch: Chị L và anh Ch có một con Ch là Lương Thị Ngọc Mai sinh ngày 12 tháng 8 năm 2017 hiện con Ch đang sinh sống cùng với anh Ch, sau khi ly hôn chị L yêu cầu tòa án xem xét giao cháu Mai cho anh Ch trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi cháu Mai đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi, chị L không cấp dưỡng nuôi con Ch.
Về tài sản Ch và công nợ Ch: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tiến hành phiên hoà giải, nhưng anh Ch không có mặt tại Tòa án, Tòa án đã lập biên bản không hòa giải được và xét xử vụ án theo thủ tục Ch.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Yên phát biểu ý kiến đối với Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định về tố tụng, nguyên đơn có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh Ch vắng mặt chưa hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết vụ kiện.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị L được ly hôn với anh Ch. Về con Ch, căn cứ điều kiện về chỗ ở, học tập của cháu Mai. Cần giao cho anh Ch là người trực tiếp nuôi con Ch là Lương Thị Ngọc Mai, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2017 về cấp dưỡng do anh Ch đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không có mặt và không có ý kiến gì về cấp dưỡng nên chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về án phí chị L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Toà án thụ L và giải quyết vụ án xác định mối quan hệ pháp luật vụ án ly hôn, theo đơn khởi kiện của Lương Thị L, do bị đơn anh Ch có hộ khẩu thường trú tại Thôn Kh, xã M huyện LY, tỉnh YB. Căn cứ quan hệ pháp luật và thẩm quyền theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái có thẩm quyền giải quyết.
Tòa án xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 do anh Ch được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt không có ly do.
Đối với quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Lương Văn Ch kết hôn ngày 14 tháng 7 năm 2017 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Minh Chuẩn, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Việc kết hôn này tuân thủ đúng các quy định tại Điều 9, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong vụ án này qua lời khai của chị L tháng 12 năm 2021 chị và anh Ch phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do anh Ch thường xuyên uống rượu, bia không quan tâm đến chị L, chị L và anh Ch đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay không quan tâm đến nhau nữa.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Theo quy định tại khoản 1 Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, Chthuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cung nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Trên thực tế vợ chồng chị L và anh Ch thường xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân là đúng thực tế, căn cứ biên bản xác minh ngày 31 tháng 10 năm 2023 tại Thôn Kh, xã M huyện LY, tỉnh YB.
Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh Ch đã thực sự trầm trọng, đời sống Ch không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó Hội đồng xét xử, xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lương Thị L được ly hôn với anh Lương Văn Ch.
Về con Ch: Chị L và anh Ch có một con Ch là Lương Thị Ngọc Mai, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2017 hiện đang ở cùng anh Ch. Khi ly hôn chị L yêu cầu Tòa án giải quyết cho giao anh Ch được trực tiếp nuôi dưỡng con Ch là cháu Mai, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con Ch. Anh Ch hiện có chỗ ở ổn định, thu nhập bình quân khoảng 5.000.000đ (năm triệu đồng) một tháng bảo đảm cho việc nuôi con Ch. Về cấp dưỡng do anh Ch chưa có yêu cầu nên chị L không phải cấp dưỡng nuôi con Ch, từ căn cứ đã nêu việc giao con Ch cho anh Ch nuôi dưỡng, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản Ch và công nợ Ch: Nguyên đơn, bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Phát biểu của Kiểm sát viên về nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Chị Lương Thị L phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản L và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị L được ly hôn với anh Lương Văn Ch.
2. Về nuôi con Ch: Anh Lương Văn Ch trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Ch là Lương Thị Ngọc Mai, sinh ngày 12 tháng 8 năm 2017 đến khi con Ch đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con, anh Ch có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con Ch mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Lương Thị L phải nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) tiền án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000,đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai số: AA/2022/0001064 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận chị L đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo bản án: Án xử công khai sơ thẩm chị L, anh Ch có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các điều 6,7,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh; - VKS Tỉnh; - VKSND Huyện; - Thi hành án dân sự Huyện; - UBND xã M; - Các đương sự; - Lưu HS,T.A,THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Đỗ Quỳnh |