- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Hồng Đ - Lê Quang Đ1"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hồng Đ.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ - ST Ngày: 05/02/2024 Về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán: - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và bà Trần Thị Lệ Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan là thư ký Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Doan – Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 204/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST – HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Hồng Đ – sinh năm 2003.
Nơi ĐKHKTT: Xóm 11, xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Lê Quang Đ1 – sinh năm 1999.
Nơi ĐKHKTT và trú tại: Xóm 6, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.
Chị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Đ1 vắng mặt lần 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản khác có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn là chị Trần Thị Hồng Đ trình bày: Chị và anh Lê Quang Đ1 sau thời gian tự do tìm hiểu khoảng hai năm đã tự nguyện kết hôn với nhau. Đăng ký kết hôn ngày 27 tháng 04 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Sau khi kết hôn anh chị chưa kịp tổ chức đám cưới, có về sống chung với nhau nhưng thời gian chưa lâu đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do bất đồng quan điểm lối sống, mặt khác do cả hai bên còn trẻ nên chưa hiểu hết về tính cách và bản chất của nhau, khi mẫu thuẫn phát sinh cả hai đều không có ý định hàn gắn nên đã không thể tiếp tục chung sống cùng nhau. Hơn một năm nay anh chị không liên lạc với nhau nữa. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được Do vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Đ1 để chị ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị và anh Đ1 có một con chung cháu Lê Bảo K, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2022. Cháu K sinh ra trước khi anh chị kết hôn nhưng cháu K là con chung của chị và anh Đ1. Nay ly hôn chị nhận nuôi cháu K và chị không yêu cầu anh Đ1 phải có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị và anh Đ1 không có tài sản chung và công nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn trong vụ án là anh Lê Quang Đ1 hiện đang cư trú tại xóm 6, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án cho anh Lê Quang Đ1 và giao các tài liệu chứng cứ theo đề nghị của nguyên đơn, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho anh Đ1 thông qua mẹ đẻ của anh Đ1 là bà Nguyễn Thị V, bà V cam kết giao ngay tận tay các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Đ1. Bản thân anh Đ1 cũng đã biết việc chị Đ có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh, nhưng anh Đ1 không có mặt làm việc tại Tòa án và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
1. Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành và thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81,82,83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 144 khoản 4 Điều 147 và §iÒu 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trần Thị Hồng Đ ly hôn anh Lê Quang Đ1.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị Hồng Đ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung cháu Lê Bảo K, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2022 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Lê Quang Đ1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung. Anh Đ1 có quyền đi lại thăm nom con chung.
- Án phí: Chị Trần Thị Hồng Đ nộp án phí ly hôn sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Chị Trần Thị Hồng Đ có đơn khởi kiện về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Lê Quang Đ1 có nơi cư trú tại: Xóm 6, xã C, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện K thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1, Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa vắng mặt bị đơn là anh Lê Quang Đ1, anh Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt không rõ lý do. Chị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy để đảm bảo quyền lợi của các đương sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Hồng Đ và anh Lê Quang Đ1 có đăng ký kết hôn ngày ngày 27 tháng 04 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh Đ1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chưa tổ chức đám cưới và về chung sống đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm lối sống mặt khác cả hai còn trẻ nên khi mâu thuẫn phát sinh đã quyết định không về chung sống cùng nhau nữa. Hơn một năm nay chị Đ và anh Đ1 không liên lạc với nhau cũng như không có biện pháp nào hàn gắn. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án anh Đ1 không có văn bản ý kiến, không có bản tự khai và không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tại phiên tòa anh Đ1 vẫn vắng mặt không có lý do. Điều này thể hiện anh Đ1 có thái độ bỏ mặc và không thiện trí trong việc giải quyết mâu thuẫn vợ chồng, không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được và chỉ tồn tại trên danh nghĩa.
Biên bản xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C thể hiện: Anh Đ1 sau khi tìm hiểu đã kết hôn với chị Trần Thị Hồng Đ vào ngày 27 tháng 4 năm 2022 tại UBND xã Đ là quê của chị Đ. Sau khi kết hôn chị Đ và anh Đ1 về chung sống tại xóm 6, xã C một thời gian ngắn đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm lối sống sau đó chị Đ đã về nhà bố mẹ đẻ chị Đ để làm ăn sinh sống. Chị Đ không sống cùng anh Đ1 hơn một năm nay. Con chung của vợ chồng anh chị có một cháu Lê Bảo K, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2022. Cháu K sinh ra trước khi anh chị kết hôn nhưng là con chung của vợ chồng và được làm khai sinh đầy đủ theo quy định của pháp luật. Chị Đ là người trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của hai vợ chồng về mức thu nhập do cả hai anh chị làm tự do nên chính quyền cơ sở không nắm được cụ thể mức thu nhập của hai anh chị. Nay chị Đ xin ly hôn anh Đ1 đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật giải quyết.
Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Đ và anh Đ1 đã không thể khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Chị Đ và anh Đ1 có một con chung cháu Lê Bảo K, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2022. Hiện cháu đang ở cùng với chị Đ. Nay ly hôn chị Đ có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung của hai vợ chồng và không yêu cầu anh Đ1 có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con. Về phía anh Đ1 không có ý kiến gì về việc giải quyết các vấn đề trong vụ án, cũng như không có ý kiến gì về việc nuôi con sau khi ly hôn. Cháu K hiện mới 23 tháng tuổi do vậy theo quy định của pháp luật chị Đ được quyền nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn
Nay để không làm ảnh hưởng đến tâm sinh lý và đảm bảo quyền lợi của con chung nên giao cháu K cho chị Đ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên và tự lập được cuộc sống. Về vấn đề cấp dưỡng đối với con chung do chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng. Việc chị Đ không yêu cầu cấp dưỡng là hoàn toàn tự nguyện do vậy không buộc anh Đ1 phải cấp dưỡng đối với con chung là phù hợp với với điều 82, 83 Luật Hôn nhân nhân gia đình và phù hợp với thực tế điều kiện nuôi dưỡng con của các bên đương sự.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 144. Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Trần Thị Hồng Đ phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp , quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Hồng Đ.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Hồng Đ và anh Lê Quang Đ1 (Quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh Đ1 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật)
2. Về con chung: Giao cháu Lê Bảo K, sinh ngày 24 tháng 02 năm 2022 cho chị Trần Thị Hồng Đ tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi và tự lập được cuộc sống. Anh Lê Quang Đ1 không có nghĩa vụ cấp dưỡng đối với con chung và anh Đ1 có quyền đi lại thăm nom con chung. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con chung.
3. Về án phí: Chị Trần Thị Hồng Đ phải nộp 300.000 đồng ( Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0005029 ngày 03 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện K, tỉnh Ninh Bình.
Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình. - VKSND huyện K - Chi cục THA dân sự huyện K - UBND xã Đ, huyện K. - Đương sự. - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Khanh |