vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Kim T được ly hôn với anh Triệu Văn S. Về con chung: Chị T và anh S không có con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOÀ AN
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2024
Về việc: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ AN, TỈNH CAO BẰNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lục Thanh Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Mã Thị Oanh;

2. Bà Hoàng Thị Bằng.

Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Biển - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Kim T; Sinh ngày 01/01/1984;

Nơi đăng ký HKTT: Xóm NT, xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.

Địa chỉ hiện tại khi ly hôn: Số nhà 15, đường số 7, phường 4, thành phố TA, tỉnh Long An (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Trung Dũng – Luật sư văn phòng Luật sư Nguyễn Trung Dũng thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cao Bằng (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Triệu Văn S; Sinh ngày 23/6/1986;

Nơi đăng ký HKTT và nơi cư trú hiện nay: Xóm NT, xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng (Có văn bản ý kiến đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2024 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phan Thị Kim T trình bày: Chị và anh Triệu Văn S quen biết nhau qua mạng xã hội và tổ chức kết hôn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng vào ngày 25/01/2019. Thời gian sau khi kết hôn do khoảng cách địa lý nên hai vợ chồng sống ở gần nhau rất là ít, trong khoảng thời gian từ khi kết hôn cho đến nay thì hai vợ chồng sống chung với nhau được khoảng 30 ngày. Từ năm 2022 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Triệu Văn S lười biếng lao động, rượu chè bê tha, vi phạm pháp luật, thường xuyên gọi điện lăng mạ, vu khống dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn trầm trọng và ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị yêu cầu giải quyết được ly hôn với anh S.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có con chung

Về tài sản chung và vay nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Hòa An đã thông báo và tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Triệu Văn S vắng mặt nên vụ án không T hành hòa giải được

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 19/6/2024 đối với anh Triệu Văn S thể hiện anh S đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Kim T, xác nhận vợ chồng không có con chung, không có tài sản chung và không có vay nợ chung. Ngoài ra anh S đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, còn anh S vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án việc tuân theo pháp luật tố tụng của người T hành tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, còn bị đơn chưa thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu chứng cứ đã được Hội đồng xét xử công khai tại phiên tòa, đề nghị áp dụng các điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ của vụ án đã được thẩm tra, trên cơ sở những lời trình bày và kết quả tranh luận của đương sự tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa An, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Phan Thị Kim T kết hôn với anh Triệu Văn S, địa chỉ: Xóm NT, xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Nay chị T khởi kiện xin ly hôn với anh S, nên quan hệ pháp luật được xác định là tranh chấp “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa An, Cao Bằng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về tố tụng: Tại biên bản lấy lời khai anh S đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án T hành xét xử vắng mặt anh S.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị Kim T và anh Triệu Văn S chung sống với nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 25/01/2019 tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng nên quan hệ hôn nhân của chị T và anh S được xem là hợp pháp. Tuy nhiên, chị T cho rằng trong thời gian chung sống thì chị và anh S do khoảng cách địa lý nên sống chung với nhau rất ít và đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã không sống chung với nhau từ năm 2022 đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên chị xin ly hôn với anh S. Sau khi thụ lý yêu cầu khởi kiện của chị T, Tòa án đã T hành lấy lời khai của anh S thể hiện anh S nhất trí với nội dung khởi kiện của chị T

Xét thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh S đã không thể tiếp tục được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T có đơn yêu cầu ly hôn với anh S là có cơ sở và đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Chị T và anh S cùng xác nhận vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, vay nợ chung: Hai vợ chồng cùng xác nhận không có tài sản chung, không có vay nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 267; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Kim T.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Phan Thị Kim T được ly hôn với anh Triệu Văn S.

2. Về con chung: Chị T và anh S không có con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị T và anh S đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phan Thị Kim T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn sung Ngân sách Nhà nước. Nhưng được đối trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001410 ngày 15/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí.

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ