vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Ngọc Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Ngọc Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Chị Cao Thị Ngọc Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/2017 (theo nguyện vọng của cháu T1). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DUYÊN HẢI
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-4-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Đạt Thông

2. Ông Dương Thanh Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Trần Mai Tâm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Kim Mau - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải và điểm cầu thành phần Ủy ban nhân dân xã N, Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số: 20/2023/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Ngọc Đ, sinh năm 1988. (có mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: Ấp C, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.

Địa chỉ tạm trú: Ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/9/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Cao Thị Ngọc Đ trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn vào ngày 22/02/2018 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn vợ chồng về sinh sống tại ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc nhưng đến giữa năm 2021 vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẩn, bất đồng với nhau dẫn đến hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị và anh Nguyễn Văn T sống ly thân khoảng hai năm nay. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu được ly hôn anh Nguyễn Văn T. Về con chung: Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/2017 chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không có lời trình bày.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn chị Cao Thị Ngọc Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ và hòa giải đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm. Về nội dung vụ án, tình trạng hôn nhân giữa chị Cao Thị Ngọc Đ và anh Nguyễn Văn T đã mâu thuẩn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho chị Đ được ly hôn anh T. Về con chung Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/2017, khi ly hôn chị Cao Thị Ngọc Đ yêu cầu được quyền nuôi con đều này phù hợp với nguyện vọng của cháu T1 khi cha mẹ ly hôn muốn được sống chung với chị Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Nguyễn Ngọc T1 cho chị Đ được tiếp tục nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con do chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không đề nghị xem xét. Về tài sản chung và nợ chung do chị Cao Thị Ngọc Đ không có yêu cầu nên không đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào diễn biến tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Nguyễn Văn T có địa chỉ cư trú tại ấp M, xã N, huyện D, tỉnh Trà Vinh nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Xét đơn khởi kiện của chị Cao Thị Ngọc Đ có nội dung yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn T đã được Tòa án nhân dân huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn T là đúng quy định của pháp luật.

Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Cao Thị Ngọc Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng chị Đ và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn đúng theo quy định pháp luật nên quan hệ hôn nhân giữa chị Đ và anh T là hợp pháp. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống không hạnh phúc và hiện đã sống ly thân, trong thời gian sống ly thân chị Đ và anh T cũng không quan tâm đến cuộc sống của nhau và không có biện pháp để hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Cao Thị Ngọc Đ về việc xin ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị Cao Thị Ngọc Đ và anh Nguyễn Văn T có một con chung là Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/2017, xét thấy từ khi chị Đ và anh T ly thân cho đến nay thì cháu T1 vẫn do chị Đ trực tiếp chăm sóc, giáo dục phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, trong quá trình giải quyết vụ án cháu T1 có nguyện vọng được sống với mẹ là chị Đ nên căn cứ Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Nguyễn Ngọc T1 cho chị Đ được tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con do chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Cao Thị Ngọc Đ trình bày không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Cao Thị Ngọc Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Cao Thị Ngọc Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Cao Thị Ngọc Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn T.

Về con chung: Chị Cao Thị Ngọc Đ được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/2017 (theo nguyện vọng của cháu T1).

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Cao Thị Ngọc Đ tự nguyện không yêu cầu anh Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Anh Nguyễn Văn T được quyền lui tới thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm hay cản trở.

Vì lợi ích con chung, trong quá trình chăm sóc và nuôi dưỡng, chị Cao Thị Ngọc Đ và anh Nguyễn Văn T được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Buộc chị Cao Thị Ngọc Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị Đ đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0019220 ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Duyên Hải.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án sơ thẩm nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ