vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T được ly hôn với ông Nguyễn Đ.

[2]. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017, cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà T và ông Đ mâu thuẫn gia đình nên xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T được ly hôn với ông Nguyễn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH K
------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST
Ngày 01 - 02 - 2024
V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH K

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Vinh

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Văn Nhu

Bà Bùi Tuấn Mỹ

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện D- tỉnh K.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D- tỉnh K tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bảo Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 306/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2023/QĐXX-ST ngày 27/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn T

- sinh năm 1993 Địa chỉ: thôn 2, xã Đ, huyện D, tỉnh K.

Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đ

- sinh năm 1982 Địa chỉ: thôn 2, xã Đ, huyện D, tỉnh K.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 27/9/2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn T trình bày: bà và Ông Nguyễn Đ tự nguyện yêu thương, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Đ - huyện D vào năm 2016. Thời gian chung sống giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do ông Đ ham mê số đề, thường xuyên nhậu nhẹt, không chịu khó làm ăn, không có sự chăm sóc, quan tâm đến gia đình, dẫn đến vợ chồng cãi vã, gia đình không có hạnh phúc. Nhiều lần bà đã cố gắng bỏ qua và tạo cơ hội cho ông Đ, nhưng ông Đ vẫn không đổi hay đổi bản tính. Bà xác định không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến ông Đ nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đ.

Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: bà xác định giữa bà và ông Đ không có tài sản chung và nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời ông Đ đến Tòa án làm việc, nhưng ông Đ vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn T vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông Nguyễn Đ; con chung: có 01 con chung là Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017. Bà có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung và nợ chung: bà xác định giữa bà và ông Đ không có tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông Đ vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D - tỉnh K phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn ông Đ vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn T xin ly hôn với ông Đ. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017 cho bà T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và bà T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét; tài sản chung và nợ chung: bà T xác định không có nên không xem xét. Về án phí: bà T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đ.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn T và ông Nguyễn Đ tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau có đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Đ và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23 ngày 21/3/2016 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, thường xuyên xảy ra nhiều mâu thuẫn, theo bà T nguyên nhân là do ông Đ ham mê số đề, không chịu khó làm ăn, không có sự chăm sóc, quan tâm đến gia đình, có những lời nói làm tổn thương bà, gia đình không có hạnh phúc, vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2023 cho đến nay. Do đó, tình cảm bà T dành cho ông Đ không còn. Tại biên bản xác minh ngày 19/10/2023 của Hội phụ nữ xã Đ thể hiện: Địa phương không có thông tin về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông Đ. Ông Nguyễn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng ông Đ không đến Tòa án làm việc. Điều này chứng tỏ, ông Đ không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa bà T và ông Đ đã không còn tình cảm yêu thương nhau, dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T được ly hôn với ông Nguyễn Đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3]. Về con chung: Bà T và ông Đ có 01 con chung là Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017. Hiện tại, bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ và có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu Đ nên cần để bà T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Đ là phù hợp với pháp luật.

Bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4]. Về tài sản chung: bà T xác định giữa bà và ông Đ không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung: bà T xác định giữa bà và ông Đ không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí: bà T phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn T được ly hôn với ông Nguyễn Đ.

[2]. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Đ - sinh ngày 25/4/2017, cho bà T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Ông Đ có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà T, ông Đ có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về tài sản chung: không có.

[4]. Về nợ chung: không có.

[5]. Về án phí: Bà Nguyễn T nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2022/0004294 ngày 09/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện D- tỉnh K; bà T đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quy định chung: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ