- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Kim H - Lê Văn H1 - Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Kim H;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 – 01 – 2024 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯM’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Tha
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Bùi Thị Hà
2. Bà Nguyễn Thị Hoài Bão
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện CưM’Gar, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CưM’gar, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 01 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện CưM’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 331/2023/TLST – HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST- HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim H, sinh năm 1991, có mặt
Địa chỉ: Thôn B, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
Bị đơn: Anh Lê Văn H1, sinh năm 1989, vắng mặt
Địa chỉ: Thôn C, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn Võ Thị Kim H trình bày:
Chị Võ Thị Kim H và anh Lê Văn H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 11/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chính là do anh H1 không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con, vợ chồng không chia sẻ, cảm thông cho nhau nên mẫu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 9 năm 2023 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Nay chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại, vì vậy, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Võ Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Văn H1.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Lê Ngọc Chí T, sinh ngày 02/9/2014 và Lê Ngọc Chí T1, sinh ngày 29/11/2016, cả hai cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường. Chị H đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng hai cháu. Chị H có nguyện vọng được nuôi cháu T và cháu T1 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu giải quyết.
Hiện nay chị H làm nghề buôn bán với thu nhập mỗi tháng khoảng 15.000.000 đồng, thu nhập ổn định, đảm bảo chăm sóc 02 cháu tốt cả về vật chất lẫn tinh thần.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Lê Văn H1 đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án;
Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Võ Thị Kim H. Chị Võ Thị Kim H được ly hôn anh Lê Văn H1.
Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Chí T, sinh ngày 02/9/2014 và Lê Ngọc Chí T1, sinh ngày 29/11/2016 cho chị Võ Thị Kim H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết là tranh chấp về hôn nhân gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Về thủ tục tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn Lê Văn H1 vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: chị Võ Thị Kim H và anh Lê Văn H1 tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 11/12/2013 tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh H1 thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh H1 không lo làm ăn, không quan tâm, chăm sóc vợ con, vợ chồng không chia sẻ, cảm thông cho nhau nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Từ tháng 9 năm 2023 đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau nữa. Tình trạng mâu thuẫn giữa chị H và anh H1 không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn Võ Thị Kim H.
Về con chung: Chị H và anh H1 có 02 con chung là cháu Lê Ngọc Chí T, sinh ngày 02/9/2014 và Lê Ngọc Chí T1, sinh ngày 29/11/2016. Các cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường, nguyện vọng của chị H là được nuôi dưỡng cháu T và cháu T1 đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Trong quá trình giải quyết vụ án anh H1 không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập. Do vậy, Tòa án không ghi nhận ý kiến của anh H1 về nguyện vọng nuôi con. Xét yêu cầu của đương sự, nguyện vọng của cháu H1 và cháu T được chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; đồng thời, điều kiện để chăm sóc con của chị H tốt hơn anh H1. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu T và cháu T1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
Chị H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Võ Thị Kim H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình 2014.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Võ Thị Kim H;
Chị Võ Thị Kim H được ly hôn với anh Lê Văn H1.
Về con chung: Giao cháu Lê Ngọc Chí T, sinh ngày 02/9/2014 và Lê Ngọc Chí T1, sinh ngày 29/11/2016 cho chị Võ Thị Kim H trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
Về án phí: Chị Võ Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2021/0014569 ngày 25/9/2023 của chi cục Thi hành án dân sự huyện CưM’gar.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Cư M’gar; - Chi cục THADS huyện Cư M’gar; - UBND xã E; - Các đương sự; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Văn Tha |