- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Nguyễn Đôn K."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Nguyễn Đôn K.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 Quyết định số 326/2014/QĐ-UBND Về việc sửa đổi, bổ sung Quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29/02/2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Đào.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Thắm, ông Dương Văn Nhạ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Hảo -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 29/02/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2023/TLST- HNGĐ ngày 12/12/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/01/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị X; sinh năm: 1995; trú tại: thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: anh Nguyễn Đôn K; sinh năm: 1989; trú tại: thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Đ (bố đẻ anh Nguyễn Đôn K); trú tại: thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai có tại hồ sơ, nguyên đơn Nguyễn Thị X trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Đôn K tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã Y (nay là xã K), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh vào ngày 12/9/2014. Quá trình chung sống được hai năm đến năm 2016 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, không có tiếng nói chung và mâu thuẫn trầm trọng, không thể tìm được phương án hòa giải. Hiện nay, chị X không còn tình cảm nên mong muốn được ly hôn anh K.
- Về con chung: Vợ chồng có 01con chung là cháu Nguyễn Đôn H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2015. Hiện nay con đang sống với anh Nguyễn Đôn K, chị X nhường quyền nuôi con cho anh K và không cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị X trình bày vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Đôn K đã nhận được Thông báo thụ lý vụ án, biết việc chị Nguyễn Thị X yêu cầu ly hôn nhưng không có ý kiến phản đối, không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập.
Kết quả xác minh: Ông Nguyễn Đ, bố đẻ anh K cho biết: vợ chồng anh K, chị X kết hôn được hơn một năm thì xảy ra mâu thuẫn, gia đình đã hoà giải nhưng không được. Vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Đôn H, sinh ngày 30/3/2015, do hai vợ chồng ly thân anh K đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà nên cháu H ở với ông bà nội, chị X đóng tiền học phí đầy đủ cho con. Ông Đ chịu trách nhiệm nhận các văn bản tố tụng của Toà án và thông tin cho anh K biết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: trong thời gian chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn hiện đúng, đủ, quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Nguyễn Đôn K; giao con chung cho anh Nguyễn Đôn K chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành; chị Nguyễn Thị X phải nộp tiền án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị X yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Nguyễn Đôn K có đăng ký thường trú tại thôn Đ, xã K, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Do đó, quan hệ pháp luật là “Ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Can Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng đều vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo khoản 1, 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị X và anh Nguyễn Đôn K là hợp pháp, việc kết hôn tuân thủ các điều kiện kết hôn, thực hiện đúng thủ tục.
Kết quả xác minh cho thấy thời gian chung sống thực tế của vợ chồng không nhiều và xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã. Chị Nguyễn Thị X kiên quyết ly hôn còn anh Nguyễn Đôn K cũng bỏ mặc hôn nhân của mình, không có hành động thể hiện muốn tiếp tục xây dựng cuộc sống chung, thực tế vợ chồng đã ly thân không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau. Như vậy, đời sống chung của vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Nguyễn Đôn K.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Đôn H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2015. Nguyện vọng của cháu được ở với bố và ông bà nội. Hiện nay cháu H đang ở với anh K nhưng do anh K bận đi làm ăn xa nên bố mẹ đẻ anh K trực tiếp nhận chăm sóc nuôi dưỡng cháu, chị X đóng nộp học phí đầy đủ cho cháu. Do đó cần tiếp tục giao cháu H cho anh K nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc cho đến khi có sự thay đổi nuôi con, trong thời gian anh K đi làm ăn xa tạm thời giao cho ông bà nội cháu là ông Nguyễn Đ nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị X đề nghị không cấp dưỡng, anh K không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về nợ chung, tài sản chung: Các đương sự không có ý kiến về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có tranh chấp về tài sản chung, nợ chung sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; điểm b khoản 1 Điều 3, điểm a khoản 1, 2 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị X ly hôn anh Nguyễn Đôn K.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đôn H, sinh ngày 30 tháng 3 năm 2015 cho anh Nguyễn Đôn K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi nuôi con, trong thời gian anh K đi vắng tạm thời giao cháu H cho ông Nguyễn Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị X có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị X chịu trách nhiệm nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0011046 ngày 12/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc. Chị Nguyễn Thị X đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Can Lộc; - Chi cục THADS huyện Can Lộc; - UBND xã Khánh Vĩnh Yên; (để ghi vào sổ hộ tịch) - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Đào |