vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim C. Chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Mai Văn Đ.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Mai Công C2, sinh ngày 13/01/2010. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chi-Đá"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim C. Chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Mai Văn Đ.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 24/01/2024
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B – BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lựu

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Trung

2. Bà Võ Thị Hiền

- Thư ký phiên toà: Ông Trương Hữu Lộc – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Bến Tre

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Lê Văn Hiển – Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 411/2023/TLST - HNGĐ ngày 09/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 22/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1988; (vắng mặt – có đơn).

ĐKTT: Số 135/GS, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

Địa chỉ liên hệ: Số 150/GS, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Anh Mai Văn Đ, sinh năm 1970; (vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C trình bày:

Chị và anh Mai Văn Đ cưới nhau năm 2009 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 12/5/2009. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc tại ấp G, xã A, huyện B đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường hay cãi nhau, nên không thể cùng chung sống với nhau nên chị đã về gia đình ruột sinh sống từ tháng 02/2021. Hai bên cũng chính thức sống ly thân từ thời điểm này. Nay chị nhận thấy hôn nhân của chị và anh Đ không có hạnh phúc, chị không còn tình cảm vợ chồng với anh Đ, không muốn tiếp tục cuộc sống hôn nhân với anh Đ nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Trong thời gian chung sống chị và anh Đá C1 01 con chung tên Mai Công C2, sinh ngày 13/01/2010. Khi ly hôn, chị yêu cầu được quyền tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Mai Văn Đ vắng mặt tại tất cả các lần hòa giải cũng như xét xử nên không có lời trình bày:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu quan điểm:

- Về thủ tục: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS). Hội đồng xét xử và Thư ký tại tòa đã tuân theo đúng quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS; bị đơn vắng mặt không lý do tại phiên tòa xét xử nên chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 72 BLTTDS. Tại phiên tòa, nhận thấy thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó, vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử:

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của Nguyễn Thị Kim C; chị C được ly hôn với anh Mai Văn Đ.

+ Về con chung: Giao con chung là cháu Mai Công C2, sinh ngày 13/01/2010 cho chị C nuôi dưỡng. Ghi nhận chị C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

+ Về nợ chung: Chị C trình bày không có nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim C có đơn và yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn anh Mai Văn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị C và anh Đ. Về nội dung:

Về hôn nhân: Chị C và anh Đ cưới nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre ngày 12/5/2009 nên là hôn nhân hợp pháp. Do đó, hôn nhân của chị C và anh Đ là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra mâu thuẫn đến năm 2020 thì mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không có tiếng nói chung; mỗi người đều có cuộc sống riêng; không còn quan tâm đến nhau và sống ly thân từ tháng 02/2021 cho đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện B đã tạo mọi điều kiện hòa giải để vợ chồng hàn gắn tình cảm nhưng anh Đ vắng mặt tại các lần hòa giải cũng như xét xử không có lý do. Điều đó thể hiện anh Đ đã không có thiện chí muốn vợ chồng đoàn tụ. Qua đó, đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa chị C và anh Đ đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, chị C yêu cầu ly hôn với anh Đ là có căn cứ phù hợp với quy định tại các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị C và anh Đ có một con chung là cháu Mai Công C2, sinh ngày 13/01/2010; hiện cháu C2 đang sống chung với chị C. Xét yêu cầu nuôi con của chị C. Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi vợ chồng chị C và anh Đ sống ly thân, cháu C2 sống chung với chị C, chị C chăm sóc con vẫn tốt, đảm bảo đều kiện phát triển về vật chất và tinh thần cho cháu C2. Do đó giao cháu C2 cho chị C tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, chị C trình bày tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Nợ chung: Chị C trình bày không có nên không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Kim C phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Kim C. Chị Nguyễn Thị Kim C được ly hôn với anh Mai Văn Đ. Quan hệ hôn nhân theo giấy chứng nhận kết hôn số 34 (Quyển số 01/2009) ngày 12/5/2009 của Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Kim C được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Mai Công C2, sinh ngày 13/01/2010. Ghi nhận sự tự nguyện của chị C không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên đương sự có quyền yêu cầu Tòa án xem xét thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

4. Nợ chung: Chị C trình bày không có nên không xem xét.

5. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) chị Nguyễn Thị Kim C phải nộp và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0001353 ngày 22/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện B. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị C đã nộp xong.

Chị Nguyễn Thị Kim C, anh Mai Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ