- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Hải - Tuân Tranh chấp xác định cha cho con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xác định anh Nguyễn Mạnh T là cha đẻ bé gái (có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B) sinh ngày 07/5/2023, theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày: 08/5/2024 V/v “Tranh chấp xác định cha cho con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Cao Thế; ông Võ Sỹ Huyền.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Thế Hồng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Huơng Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 08/5/2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 70/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/12/2023 về việc “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-DS ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố F, thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Bá Q, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn G, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Kon Tum; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện đề ngày 12/12/2023, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
Chị H và anh Nguyễn Bá Q đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2001 tại UBND thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Đến năm 2003 do mẫu thuẫn giữa vợ chồng không còn hòa hợp, bất đồng quan điểm nên cả hai đã ly thân với nhau và cắt đứt mọi quan hệ tình cảm. Sau khi ly thân được được một thời gian với anh Nguyễn Bá Q thì vào tháng 8 năm 2022 chị H có có gặp và này sinh tình cảm với anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1982, trú tại thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Quá trình quen biết và gần gũi với anh Nguyễn Mạnh T thì giữa chị H và anh T đã có quan hệ sinh lý với nhau, dẫn đến chị H có thai. Đến ngày 07/5/2023 thì chị H đã sinh ra một đứa trẻ, là bé gái, nặng 2800gam, có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B. Tuy nhiên, do giữa chị H và anh Nguyễn Mạnh T không xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp (vì con sinh ra khi chị H vẫn đang còn xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Nguyễn Bá Q), nên không thể khai sinh cho con với đầy đủ tên cha là Nguyễn Mạnh T và tên mẹ là Nguyễn Thị H; sau khi sinh con thì chị H có đưa con đi xét nghiệm ADN, kết quả xét nghiệm kết luận anh Nguyễn Mạnh T và con do chị H sinh ra ngày 07/5/2023 có cùng huyết thống cha con. Do vậy để đảm bảo quyền lợi cho con, cũng như thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của người làm cha đối với con, nên chị làm đơn này để yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xác định anh Nguyễn Mạnh T là cha đẻ của đứa trẻ do chị H sinh ra có tên dự kiến Nguyễn Thúy B, giới tính: Nữ, sinh ngày 07/5/2023 theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Trong bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Mạnh T trình bày:
Anh T thừa nhận quen biết và có quan hệ tình cảm cũng như quan hệ sinh lý với chị H như chị H trình bày ở trên. Tuy nhiên, do con chị H sinh ra vào ngày 07/5/2023 là trong thời kỳ chị H đang có hôn nhân hợp pháp với anh Nguyễn Bá Q nên theo quy định đang là con của chị H và anh Q chứ chưa thể đương nhiên là con của anh T với chị H được, nay chị H làm đơn khởi kiện với nội dung như trên để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên liên quan anh T đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật, nếu có đủ căn cứ pháp lý khẳng định đó là con anh T thì anh T sẽ đồng ý và không có ý kiến gì.
3. Trong biên bản lấy lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá Q trình bày:
Anh Q thừa nhận về việc đăng ký kết hôn, quá trình chung sống cũng như việc ly thân giữa anh với chị Nguyễn Thị H là đúng như nội dung trình bày của chị H. Anh khẳng định con do chị H sinh ra vào ngày 07/5/2023 không phải là con anh, còn đó là con của ai thì đề nghị Tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã có văn bản để yêu cầu Công ty Cổ phần C, có trụ sở tại: Số C, ngõ A L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội để xác thực lại kết quả xét nghiệm ADN số: 2647.VCJ/23/ADN, ngày 30/6/2023 của Công ty Cổ phần C, do chị Nguyễn Thị H cung cấp để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tại Công văn bản trả lời của Công ty Cổ phần C đã xác thực: Kết quả xét nghiệm ADN do chị Nguyễn Thị H cung cấp cho Tòa án là do phía Công ty Cổ phần C thực hiện, và phía Công ty Cổ phần C đảm bảo về tính chính xác về kết quả xét nghiệm.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát, kiểm sát việc tuân theo pháp luật có ý kiến như sau:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi Tòa án tiến hành thụ lý đơn, giải quyết vụ án cho đến phiên tòa hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn, bị đơn đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thực hiện tương đối đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
- Về ý kiến giải quyết nội dung vụ án: Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, đối chiếu với các quy định của pháp luật có cơ sở đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H; xác định anh Nguyễn Mạnh T là cha đẻ của bé gái do chị H sinh ngày 07/5/2023; Theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị H không phải chịu án phí sơ thẩm, anh Nguyễn Mạnh T phải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Nguyễn Mạnh T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn K, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, theo quy định tại khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
Tại phiên tòa ngày 22/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá Q vắng mặt không rõ lý do, căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tòa án đã thực hiện việc tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa, triệu tập hợp lệ các đương sự theo đúng quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa ngày hôm nay anh Q vắng mặt không rõ lý do, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá Q theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Bá Q có đăng ký kết hôn vào ngày 10/8/2001 tại UBND thị trấn P, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Trong thời gian chị H và anh Q sống ly thân, thì chị H và anh Nguyễn Mạnh T có quan hệ tình cảm và có quan hệ sinh lý với nhau dẫn đến chị H có thai, ngày 07/5/2023 chị H sinh 01 bé gái theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Do tại thời điểm chị H sinh con (vào ngày 07/5/2023) đang trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp giữa chị H và anh Q nên nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình thì đây là con chung của anh Q và chị H. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cả anh Q và chị H đều khẳng định quá trình ly thân từ năm 2003 cho đến nay thì cả hai đã cắt đứt mọi quan hệ tình cảm, không còn gặp gỡ nhau và anh Q cũng khẳng định bé gái do chị H sinh ra ngày 07/5/2023 theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh không phải là con mình. Anh Nguyễn Mạnh T và chị Nguyễn Thị H đều khẳng định sau khi nảy sinh tình cảm cả hai đã có quan hệ sinh lý với nhau, mặt khác theo kết quả xét nghiệm ADN số: 2647.VCJ/23/ADN, ngày 30/6/2023 của Công ty Cổ phần C, kết luận anh Nguyễn Mạnh T và bé gái sinh ngày 07/5/2023, theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B, có cùng huyết thống cha con. Vì vậy, yêu cầu của chị Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án xác định anh Nguyễn Mạnh T là cha đẻ bé gái sinh ngày 07/5/2023, theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B là có căn cứ, nên cần được chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H thuộc trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí; yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn anh Nguyễn Mạnh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 89, 90, 91, 101, 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, điểm b khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xác định anh Nguyễn Mạnh T là cha đẻ bé gái (có tên dự kiến là Nguyễn Thúy B) sinh ngày 07/5/2023, theo Giấy chứng sinh số 99, quyển số 05 ngày 14/5/2023 của Trung tâm Y tế huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Về án phí: Buộc anh Nguyễn Mạnh T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Hương Sơn; - Chi cục THADS Hương Sơn; - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Lưu hồ sơ + VP-TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Văn Đạt |