- Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị H - Chu Văn T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 Về việc thi hành Luật Hôn nhân…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/HNGĐ-ST Ngày 08 - 01 - 2024 “V/v: Không công nhận quan hệ vợ chồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ma Thị Như Trang.
2. Bà Nguyễn Hà Linh.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 08/01/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án dân sự thụ lý số 302/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20/11/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/12/2023 giữa:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1978.
- Bị đơn: Ông Chu Văn T, sinh năm 1976.
Cùng nơi cư trú: Thôn 12 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Bà H, ông T đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Chu Văn T được tự do tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2018 thì ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn kể từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên xảy ra to tiếng cãi chửi nhau. Bà xác định không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn giữa bà với ông T đã quá căng thẳng, trầm trọng, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Thực tế bà và ông T đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay mỗi người một công việc không ai quan tâm đến nhau nữa. Bà đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà và ông Chu Văn T theo quy định pháp luật.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà và ông Chu Văn T có 02 người con chung là cháu Chu Văn H, sinh ngày 28/4/1996 và cháu Chu Thị N, sinh ngày 06/7/1998. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành trên 18 tuổi sức khỏe phát triển bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, đất đai chung: Bà và ông Chu Văn T tự thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Bà và ông Chu Văn T không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, bà Phạm Thị H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bà H giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.
* Tại biên bản lấy lời khai và biên bản hòa giải, bị đơn ông Chu Văn T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị H được tự do tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu ông bà chung sống hạnh phúc bình thường, đến năm 2018 thì ông bà bắt đầu phát sinh mâu thuẫn kể từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, luôn bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và ông bà đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay. Nay bà H đề nghị Tòa án tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà Phạm Thị H thì ông cũng nhất trí.
- Về con chung: Quá trình chung sống ông và bà Phạm Thị H có 02 con chung là cháu Chu Văn H, sinh ngày 28/4/1996 và cháu Chu Thị N, sinh ngày 06/7/1998. Hiện nay cả hai con chung đều đã trưởng thành trên 18 tuổi sức khỏe phát triển bình thường nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, đất đai chung: Ông và bà Phạm Thị H tự thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ chung: Ông và bà Phạm Thị H không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, ông Chu Văn T vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T giữ nguyên ý kiến đã trình bày nêu trên, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì khác.
Qua xác minh tại thôn 12 M, xã M, huyện H được cung cấp thông tin: Hiện nay bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T là công dân đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 12 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T được tự do tìm hiểu và chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống bà H và ông T không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn.
Tòa án tiến hành xác minh tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang ngày 17/11/2023 kết quả như sau: Qua kiểm tra Sổ đăng ký kết hôn lưu tại UBND xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang từ trước đến nay không thể hiện việc bà Phạm Thị H có đăng ký kết hôn với ông Chu Văn T.
Về tài liệu, chứng cứ, các đương sự cung cấp cho Tòa án gồm:
- Nguyên đơn bà Phạm Thị H cung cấp cho Tòa án: 01 Đơn khởi kiện; 01 Căn cước công dân của bà H (Bản sao chứng thực); 01 Giấy xác nhận thông tin về cư trú (bản chính); 02 Căn cước công dân của cháu H và cháu N (Bản sao chứng thực); Đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí (bản chính).
- Bị đơn ông Chu Văn T cung cấp cho Tòa án: Không có.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn ông Chu Văn T chấp hành tốt các quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 9, các Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đề nghị: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử không công nhận bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T là vợ chồng.
- Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng thuộc trường hợp được miễn nên đề nghị miễn án phí cho bà H theo quy định của pháp luật; Ông Chu Văn T không phải chịu án phí.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo bản án của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết: Bà Phạm Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Chu Văn T nên xác định đây là vụ án “Không công nhận quan hệ vợ chồng” theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Theo thông tin đương sự cung cấp và Tòa án xác minh thì hiện nay bị đơn ông Chu Văn T là công dân có đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú tại thôn 12 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa: Tại phiên tòa các đương sự đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T chung sống với nhau từ năm 1995 đến nay, trước khi chung sống ông bà được tự do tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán của địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T là không hợp pháp. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý” và tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số: 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội quy định: “Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01/01/2003 trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01/01/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng”. Như vậy, bà H và ông T chung sống với nhau từ năm 1995 đến nay không có đăng ký kết hôn mặc dù có đủ điều kiện kết hôn, xong các bên không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kết hôn mà vẫn chung sống cùng nhau là hôn nhân bất hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Thực tế bà H và ông T đã sống ly thân nhau từ năm 2018 đến nay, trong thời gian sống ly thân bà H và ông T không quan tâm, chăm sóc gì đến nhau, vì vậy bà H làm đơn yêu cầu tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà với ông T. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên cũng đề nghị Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông T. Xét thấy yêu cầu của bà Phạm Thị H và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận. Do vậy, Hội đồng xét xử cần xử không công nhận bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T là vợ chồng là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội và khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T có 02 con chung là cháu Chu Văn H, sinh ngày 28/4/1996 và cháu Chu Thị N, sinh ngày 06/7/1998.
Hiện nay cả hai con chung đều đã đủ 18 tuổi trưởng thành, sức khỏe phát triển bình thường và có khả năng tự lao động được nên bà H và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về tài sản chung, đất đai chung: Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T cùng xác định tự thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về công nợ chung: Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T cùng xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Bà Phạm Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, tuy nhiên bà H được miễn số tiền án phí ly hôn sơ thẩm trên do thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số (dân tộc Tày) cư trú tại thôn 12 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 9, các Điều 14, 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 28, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 267, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 35/2000/QH10, ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T là vợ chồng.
2. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng bà H được miễn toàn bộ số tiền án phí ly hôn sơ thẩm trên do thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số (dân tộc Tày) cư trú tại thôn 12 M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang là địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.
+ Ông Chu Văn T không phải chịu án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Phạm Thị H và ông Chu Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Hàm Yên; - Chi cục THADS huyện Hàm Yên; - UBND xã Minh Hương (Để biết); - Các đương sự; - Lưu. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Đức Tùng |