vanban.org

Bản án 05/2024/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Nghệ An Tuyên án 05/03/2024 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S.

Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau: 1. Về nuôi con: Giao cháu Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017 cho anh Đinh Thái S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 05 - 3 - 2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con,
Chia tài sản chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung và à h m Th Thuý Quỳnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th Thúy Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Th Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 tháng 02 năm 2024 và ngày 05 tháng 3 năm 2024, t i trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 39/2023/TL T-HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung” do có kháng cáo của anh Đinh Thái S và ông Đinh Văn Đ đối với ản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân th xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An. Theo Quyết đ nh đưa vụ án ra xét xử số 44/2023/QĐXX T - HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2023 và Quyết đ nh hoãn phiên tòa số 91/2024/QĐ T-HNGĐ ngày 29/01/2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ch Ngô Th T, sinh năm 1994, có mặt.

Nơi cư trú: Xóm C, xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An;

- Người đ i diện theo ủy quyền về tài sản cho ch Ngô Th T: Ông Nguyễn Chí T1, sinh năm: 1996, có mặt.

Nơi cư trú: Xóm Trung Tiến, xã Nghi Quang, huyện Nghi Lộc, Nghệ An

2. Bị đơn: Anh Đinh Thái S, sinh năm: 1990, có mặt.

Nơi cư trú: Xóm C, xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1957 (có mặt)

+ Bà Lê Th H, sinh năm 1961 (vắng mặt)

Đều cư trú t i: Xóm C, xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An

- Người đ i diện theo ủy quyền của à Lê Th H: Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1957 (có mặt)

+ Ch Nguyễn Th L, sinh năm 1992 (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Xóm C, xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An

+ Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1983 (có đơn xin vắng mặt)

Nơi cư trú: Xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo ản án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:

T i đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 10/3/2023 và đơn ổ sung đơn khởi kiện ngày 06/7/2023 cũng như trong quá trình giải quyết vụ án, t i phiên tòa nguyên đơn Ngô Th T trình ày như sau:

Về hôn nhân: Ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 10 năm 2016 t i Ủy an nhân dân xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân giữa ch T và anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn ch T và anh Sơn s với nhau h nh phúc đến khoảng tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai ên ất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp, anh S đánh đập ch , không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, vi ph m pháp luật nên năm 2022 Tòa án kết án về tội “trộm cắp tài sản”. Mặc dù mâu thuẫn của ch T và anh S đã được hai ên gia đình nội ngo i hòa giải nhưng không có kết quả. Ch T và anh S đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay không ai quan tâm, chăm sóc tới nhau. Nay ch T thấy vợ chồng không còn tình cảm, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ch yêu cầu Tòa án giải quyết cho ch được ly hôn với anh Đinh Thái S.

Về nuôi con: Ch T và anh S có 01 con chung tên là Đinh V n Thiên , sinh ngày 22 tháng 9 năm 2017. Vợ chồng không ai có con riêng, không có con nuôi. Nay ly hôn ch đồng ý giao con chung của vợ chồng cho anh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Về chia tài sản: Trong quá trình chung sống ch và anh S đã t o lập được khối tài sản chung gồm: 01 máy giặt nhãn hiệu Blue whale Bw – 26ple màu xám, cửa trước, lo i 26 kg có giá 100.000.000 đồng; 01 máy sấy nhãn hiệu Blue whale màu xám, cửa trước lo i 30kg có giá 50.000.000 đồng, 01 máy sấy công nghiệp a pha có giá 18.000.000 đồng; 01 máy hút chân không có giá 100.000đồng; 01 máy là hơi nước hãng AiQi có giá 500.000đồng; 01 máy hơi dawer lo i 30l có giá 2.000.000đồng; 01 máy hút ụi nhãn hiệu cleprox x1/40in có giá 1.200.000đồng; 01 máy ơm tăng áp 1,4 kg Raistar có giá 500.000đồng; 01 máy rửa xe Croke 2200w có giá 700.000đồng; 01 xe máy honda, lo i SH mode, iển kiểm soát 37H1-700.78 đăng ký ngày 19/12/2022 màu sơn đỏ, đăng ký mang tên Ngô Th T có giá là 55.000.000 đồng; 01 xe máy honda, lo i Winnerx, iển kiểm soát 37H1-67488 mang tên Đinh Thái S. Tr giá 23.000.000 đồng và số tiền mặt mà ch T đang giữ là 90.000.000 đồng. Tổng tr giá tài sản là: 341.000.000 đồng ( a trăm ốn mươi mốt triệu đồng).

T i phiên tòa ông Nguyễn Chí T1 là người đ i diện theo ủy quyền của ch Ngô Th T về tài sản trình ày: Toàn ộ số tài sản trên là do ch T đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài có được, khi ch T mua sắm tài sản ông Đ, bà H không đóng góp công sức cũng như tiền c để hình thành nên số tài sản trên. Khi ch T đi xuất khẩu lao động ông Đ, bà H đã ỏ chi phí để ch đi hết khoảng 115.000.000 đồng (một trăm mười lăm triệu đồng) nhưng trong thời gian lao động ở nước ngoài ch T đã gửi về trả nợ cho à H tổng số tiền là 286.966.917 đồng (hai trăm tám mươi sáu triệu, chín trăm sáu mươi sáu nghìn, chín trăm mười ảy đồng). Tuy anh S, ch T đang sống chung với gia đình ông Đ, bà H nhưng số tài sản trên xác đ nh được theo phần theo quy đ nh t i khoản 2 Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình. Hơn nữa Luật hôn nhân và gia đình không quy đ nh vợ, chồng sống chung với gia đình phải trích một phần tài sản cho gia đình. Do đó yêu cầu Hội đồng xét xử chia 2 tr giá tài sản và số tiền mặt 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng). Còn 01 xe máy honda, lo i Winnerx, iển kiểm soát 37H1-67488 mang tên Đinh Thái S thì giao cho anh S sở hữu, ch T sẽ trích trả tiền chênh lệch chia tài sản cho anh S. Đối với giàn phơi là tài sản của ông Đ, bà H nên ch không yêu cầu giải quyết.

Đối với khoản nợ anh Nguyễn Văn K số tiền 32.985.000 đồng và nợ ch Nguyễn Th L số tiền 12.690.000 đồng, đây là khoản nợ mà ông Đ và bà H làm giàn phơi, mái tôn. Do giàn phơi là tài sản của ông Đ, bà H hơn nữa ch cũng không yêu cầu chia giàn phơi nên khoản nợ trên không phải là khoản nợ của ch và anh S.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Đinh Thái S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh S thống nhất như ch Ngô Th T đã trình ày về thời gian, điều kiện kết hôn. Sau khi kết hôn anh và ch T sống với nhau h nh phúc, không có mâu thuẫn gì lớn nên nguyên nhân mâu thuẫn như ch T2 đưa ra là không đúng. Theo anh S nguyên nhân mâu thuẫn là do ngày 24/02/2023 ch T đi ăn ở quán, anh lên đón ch T về để đi sinh nhật nhưng khi về đến nhà thì ch T xuống xe và có những lời nói khó nghe và đó là hành động cố ý gây mâu thuẫn, gây xích mích vợ chồng. Sau đó ch T đã ra thuê nhà trọ ở nên anh và ch T đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay. Sau khi anh và ch T sống ly thân thì anh cũng đến gặp ch T 4 đến 5 lần với mục đích là khuyên nhủ để ch T về sống đoàn tụ với anh. Do đó nay anh vẫn còn tình cảm với ch T, mục đích hôn nhân vẫn đ t được nên anh không đồng ý ly hôn với ch T.

Về nuôi con: Vợ chồng có một con chung tên là Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017, vợ chồng không ai có con riêng, không nhận nuôi con nuôi. Nay ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung của anh và ch T. Anh không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản: Anh thống nhất số tài sản như ch T kê khai. Ngoài ra còn có 01 giàn phơi đều là tài sản chung của anh S, ch T, ông Đ và bà H. Nay ly hôn anh đề ngh chia đều cho ốn người và giao cho ông Đ, bà H được quyền sở hữu toàn ộ số tài sản trên. Do số tiền mặt 90.000.000 đồng ch T đang giữ nên ch T phải trích cho ông Đ, bà H số tiền 54.000.000đ (năm mươi ốn triệu đồng).

Đối với các khoản nợ gồm nợ anh Nguyễn Văn K số tiền 32.985.000 đồng và nợ ch Nguyễn Th L số tiền 12.690.000 đồng đều là nợ chung của anh S, ch T, ông Đ, bà H ởi đây là khoản nợ khi làm giàn phơi. Do đó nay ch T, anh S, ông Đ, bà H phải ch u trách nhiệm trả nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn Đ và bà Lê Thị H thống nhất trình bày:

Đối với số tài sản mà ch T yêu cầu Tòa án chia, ngoài ra còn có 01 giàn phơi đều là tài sản chung của anh S, ch T, ông Đ và bà H. Bởi ch T là con dâu của ông, à nên khi ch T đi xuất khẩu lao động ông, à là người đầu tư tiền nên mọi thu nhập mà ch T có được khi lao động ở nước ngoài đều là tài sản chung của hộ gia đình. Do đó nay ch T, anh S ly hôn đề ngh chia đều cho ốn người và giao cho ông Đ, bà H được quyền sở hữu toàn ộ số tài sản trên. Do số tiền 90.000.000 đồng ch T đang giữ nên ch T phải trích cho ông Đ, bà H số tiền 54.000.000đ (năm mươi tư triệu đồng).

Đối với các khoản nợ gồm nợ anh Nguyễn Văn K số tiền 32.985.000 đồng và nợ ch Nguyễn Th L số tiền 12.690.000 đồng đều là nợ chung của anh S, ch T, ông Đ, bà H. Bởi vì khoản nợ này là nợ tiền sắt, tiền công làm giàn phơi nhằm phục vụ cho hệ thống máy giặt nên ch T, anh S, ông Đ, bà H đều phải ch u trách nhiệm trả nợ cho anh K, ch L.

Bản bản khai ngày 14/8/2023 và ngày 07/9/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn K trình bày:

Vào khoảng tháng 10 năm 2022 và tháng 3 năm 2023 ông Đ có gọi anh làm mái tôn, cửa cuốn, giá để hàng, giàn phơi với tổng số tiền là 134.542.000 đồng (một trăm a mươi tư triệu, năm trăm ốn mươi hai nghìn đồng). Bà H (vợ ông Đ) đã thanh toán được số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), số tiền còn l i là 34.542.000 đồng. Do ông Đ là người đã gọi anh làm nên ông Đ phải ch u trách nhiệm trả số nợ trên cho anh.

Tại bản khai ngày 14/8/2023, ngày 07/5/2023 và biên bản lấy lời khai ngày 07/9/2023 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L trình bày:

Vào ngày 10/02/2023 bà H có đặt vấn đề mua sắt của ch . Do đó từ ngày 10/02/2023 đến ngày 14/02/2023 ch T đã lên quán ch lấy sắt nhiều lần với tổng số tiền còn nợ là 12.690.000 đồng. Do à H là người đặt vấn đề mua sắt nên à H phải ch u trách nhiệm trả nợ cho ch .

T i ản án sơ thẩm số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân th xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An đã quyết đ nh.

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; các Điều 266; 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 212; 213; 440 của BLDS; các Điều 33; 51; 56; 57; 58;59; 61; 81; 82; 83; 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm đ khoản 1 Điều 12, các điểm a, khoản 5 Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ch Ngô Th T được ly hôn với anh Đinh Thái S.

2. Về nuôi con: Công nhận sự thỏa thuận giữa ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S.

Giao cho anh Đinh Thái S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung của anh S và ch T là Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017 cho đến khi con chung trưởng thành.

Anh Đinh Thái S không yêu cầu ch T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.2. Ch Ngô Th T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

2.3. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy đ nh của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các ên thì Tòa án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

3. Về chia tài sản:

3.1. Giao cho ch Ngô Th T được quyền sở hữu tài sản gồm:

+ 01 máy giặt nhãn hiệu Blue whale Bw – 26ple màu xám, cửa trước, lo i 26 kg có giá 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

+ 01 máy sấy nhãn hiệu Blue whale màu xám, cửa trước lo i 30kg có giá 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

+ 01 máy sấy công nghiệp a pha có giá 18.000.000đ (mười tám triệu đồng)

+ 01 máy hút chân không có giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng)

+ 01 máy là hơi nước hãng AiQi có giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng)

+ 01 máy hơi dawer lo i 301 có giá 2.000.000đ (hai triệu đồng)

+ 01 máy hút ụi nhãn hiệu cleprox x1/40in có giá 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng)

+ 01 máy ơm tăng áp 1,4 kg Raistar có giá 500.000đ (năm trăm nghìn đồng)

+ 01 máy rửa xe Croke 2200w có giá 700.000đ ( ảy trăm nghìn đồng)

+ 01 xe máy honda, lo i SH mode; iển kiểm soát 37H1-700.78 đăng ký ngày 19/12/2022 màu sơn đỏ; đăng ký mang tên Ngô Th T có giá là 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng)

+ Số tiền mặt mà ch T đang giữ là 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng)

Tổng tr giá tài sản mà ch Ngô Th T được nhận là 318.000.000đ ( a trăm mười tám triệu đồng). Ch Ngô Th T có nghĩa vụ trích l i tiền chênh lệch chia tài sản cho anh Đinh Thái S là 147.500.000đ (một trăm ốn mươi ảy triệu, năm trăm nghìn đồng). Tổng tr giá tài sản mà ch T được nhận sau khi trích trả cho anh S là 170.500.000đ (một trăm ảy mươi triệu, năm trăm nghìn đồng).

3.2. Giao cho anh Đinh Thái S được quyền sở hữu tài sản gồm:

+ 01 xe máy honda, lo i Winnerx, iển kiểm soát 37H1-67488 mang tên Ngô Thái S1. Tr giá 23.000.000d (hai mươi a triệu đồng)

+ Anh Đinh Thái S được nhận số tiền 147.500.000đ (một trăm ốn mươi ảy triệu, năm trăm nghìn đồng) do ch T trích l i chênh lệch chia tài sản. Tổng tr giá tài sản và số tiền mà anh S được nhận là: 170.500.000đ (một trăm ảy mươi triệu, năm trăm nghìn đồng)

3.3. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đinh Văn Đ, bà Lê Th H về việc yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung.

Ngoài ra ản án còn tuyên về tiền lãi suất chậm thi hành án, thỏa thuận thi hành án, tiền án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 13/10/2023, anh Đinh Thái S kháng cáo nội dung: Nguyên nhân mâu thuẫn gia đình ch T trình ày chưa đúng, về tài sản là tài sản chung của cả gia đình. Số tiền ch T gửi về ên ngo i, số vàng được tặng ngày cưới và tiền thu nhập từ máy giặt chưa được làm rõ, đề ngh cấp phúc thẩm xem xét.

Ngày 13/10/2023, ông Đinh Văn Đ kháng cáo nội dung: Số tài sản đã chia cho vợ chồng là của 04 người gồm ông Đ, bà H, anh S và ch T. Ngoài ra ông còn yêu cầu anh S và ch T thanh toán cho ông Đ và bà H tiền ăn, tiền ở, tiền điện sinh ho t, tiền nghĩa vụ lao động hàng năm từ ngày cưới đến nay; tiền thuê mặt ằng đặt máy giặt, máy sấy, tiền thuê đất đặt giàn phơi, tiền công làm máy giặt 05 tháng, tiền trông giữ con và số tiền nợ còn thiếu của ông à.

Đ i diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát iểu ý kiến: Anh Đinh Thái S và ông Đinh Văn Đ kháng cáo trong thời h n luật đ nh; nội dung, hình thức đơn kháng cáo phù hợp với quy đ nh của pháp luật; vì vậy, kháng cáo của anh S và ông Đ được Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết theo trình tự phúc thẩm là đúng pháp luật.

Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Đinh Thái S và ông Đinh Văn Đ; sửa ản án sơ thẩm; công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

Anh Đinh Thái S và ông Đinh Văn Đ không phải ch u án phí phúc thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra t i phiên toà phúc thẩm và căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên toà, ý kiến của đ i diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận đ nh:

Về nội dung: Ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S đăng ký kết hôn vào ngày 14 tháng 10 năm 2016 t i UBND xã N, th xã T, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện không ai ép uộc. Sau khi kết hôn ch T và anh S chung sống h nh phúc, đến khoảng tháng 5 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do hai ên ất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp. Mặc dù mâu thuẫn của ch T và anh S đã được hai ên gia đình nội ngo i hòa giải nhưng không có kết quả. Ch T và anh S đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2023 đến nay không ai quan tâm, chăm sóc tới nhau. Nay ch T thấy vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên ch yêu cầu Tòa án giải quyết cho ch được ly hôn với anh Đinh Thái S. Anh S đang còn tình cảm với ch T nên không đồng ý ly hôn.

Về nuôi con: Ch T và anh S thỏa thuận thống nhất vợ chồng có 01 con chung, không ai có con riêng, không có con nuôi. Nay ly hôn giao cho anh S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017. Anh S không yêu cầu đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Về chia tài sản: Vợ chồng thống nhất số tài sản chung của vợ chồng. Anh S và ông Đ kháng cáo yêu cầu tính công sức của ông Đinh Văn Đ và bà Lê Th H nên chia tài sản thành 04 phần.

Xét kháng cáo của anh Đinh Thái S:

2.1. Về tình cảm: T i phiên tòa phúc thẩm anh S và ch T thỏa thuận do tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đ t được nên thuận tình ly hôn.

2.2. Về con chung: Anh Đinh Thái S và ch Ngô Th T thỏa thuận giao con chung của vợ chồng là cháu Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017 cho anh S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục và không yêu cầu ch T phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con như ản án sơ thẩm đã quyết đ nh.

2.3. Về tài sản: Theo nội dung đơn kháng cáo anh S cho rằng trong thời gian đi xuất khẩu lao động t i N ch T đã gửi tiền về cho mẹ đẻ là à Nguyễn Th T3 52.000.000 đồng, chuyển cho em gái là Ngô Th T4 96.000.000 đồng, chuyển cho em trai là Ngô Đình T5 131.000.000 đồng, số vàng được tặng trong ngày cưới và tiền thu nhập từ giặt là trong 05 tháng từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2023. T i phiên tòa ch T trình ày ch gửi tiền cho mẹ và các em là để giảm tiền thuế thu nhập, khi về nước ch đã lấy l i số tiền đó để mua máy giặt, máy sấy. Số vàng được tặng trong ngày cưới là 03 chỉ do sau ngày cưới vợ chồng chưa có việc làm nên đã án hết để khám chữa ệnh cho con và chi tiêu trong gia đình hết. Số tiền thu nhập từ nghề giặt là từ tháng 11/2022 đến tháng 3/2023 được 40.000.000 đồng. Do mới ắt đầu làm nghề nên đã chi phí mua sắm nguyên vật liệu, tặng quà ố mẹ chồng 5.000.000 đồng và chi tiêu trong tết nguyên đán năm 2023 hết, nay không còn đồng nào. Anh S không có căn cứ chứng minh và chấp nhận như ý kiến ch T trình ày. T i phiên tòa anh S và ch T thỏa thuận thống nhất số tài sản chung của vợ chồng đúng như ản sơ thẩm đã xem xét, ngoài ra còn có hệ thống giàn phơi tr giá 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng và số tiền nợ như anh K, ch L trình bày.

Xét kháng cáo của ông Đinh Văn Đ:

T i phiên tòa phúc thẩm ông Đinh Văn Đ trình bày: Ông Đ và bà H là người đứng ra vay tiền cho ch T đi xuất khẩu lao động t i Nhật Bản. Giữa ông à và vợ chồng Sơn T6 không có sự thỏa thuận về hợp nhất tài sản nên ông chấp nhận số tài sản đó là của vợ chồng Sơn T6. Khi ly hôn ông đề ngh vợ chồng Sơn T6 phải trả cho ông Đ bà H tiền ăn, tiền ở, tiền điện sinh ho t, tiền nghĩa vụ lao động hàng năm từ ngày cưới đến nay; tiền thuê mặt ằng đặt máy giặt, máy sấy, tiền thuê đất đặt giàn phơi, tiền công làm máy giặt 05 tháng, tiền trông giữ con trong thời gian vợ chồng Sơn T6 đi xuất khẩu lao động và làm máy giặt với tổng số tiền là ằng 1/3 số tài sản của vợ chồng sau khi đã trừ đi số nợ của vợ chồng nợ anh K và ch L. T i phiên tòa ông Đ và là người đ i diện hợp pháp của bà H, anh S và ch T6 thỏa thuận thống nhất như yêu cầu của ông Đ bà H.

Đối với số tiền nợ anh Nguyễn Văn K: T i phiên tòa phúc thẩm ông Đinh Văn Đ và là người đ i diện theo ủy quyền của à H cùng anh S và ch T6 thỏa thuận thống nhất như anh K trình bày. Vào tháng 11/2022 anh K có nhận làm giàn mát cho ông Đ và bà H ao gồm cả tiền công và vật liệu, sau khi làm xong đã thanh toán còn thiếu nợ 23.000.000 (Hai mươi a triệu) đồng, đây là số tiền ông Đ và bà H nợ anh K. Vào tháng 02/2023 anh K có làm hệ thống giàn phơi cho anh S và ch T6 với số tiền công là 9.985.000 (Chín triệu chín trăm tám lăm nghìn) đồng, nhưng chưa thanh toán, đây là số nợ anh S và ch T6 phải trả.

Đối với số tiền nợ ch Nguyễn Th L: T i phiên tòa phúc thẩm ông Đinh Văn Đ và là người đ i diện theo ủy quyền của à H cùng anh S và ch T6 thỏa thuận thống nhất như ch L trình bày. Vào tháng 02/2023 bà H có đặt vấn đề mua sắt để làm giàn phơi, ch T6 là người nhận sắt với tổng số tiền 15.560.000 (Mười lăm triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng, ch T6 đã trả 3.000.000 (Ba triệu) đồng còn nợ 12.560.000 (Mười hai triệu năm trăm sáu mươi nghìn) đồng, đây là số nợ chung của anh S và ch T6. Anh S đã trả hết khoản nợ này.

Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, không trái đ o đức xã hội và phù hợp với quy đ nh của pháp luật nên công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa ản án sơ thẩm.

Đối với số tiền 23.000.000 (Hai mươi a triệu) đồng ông Đ và bà H còn nợ anh Nguyễn Văn K là một giao d ch dân sự khác không liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, các đương sự có quyền khởi kiện ằng một vụ án khác.

Về án phí: Ông Đinh Văn Đ và anh Đinh Thái S kháng cáo được chấp nhận một phần, sửa ản án sơ thẩm nên không phải ch u án phí phúc thẩm.

Do sửa ản án về phần tài sản nên tính l i án phí sơ thẩm. Anh S và ch T6 mỗi người phải ch u án phí theo số tài sản được hưởng tr giá 180.500.000 (Một trăm tám mươi triệu năm trăm nghìn) đồng ao gồm cả nghĩa vụ trả nợ, và trích trả cho ông Đ và bà H.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của anh Đinh Thái S và ông Đinh Văn Đ. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; sửa ản án sơ thẩm.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 147; Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ an thường vụ Quốc hội quy đ nh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ch Ngô Th T và anh Đinh Thái S.

2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:

2.1. Về nuôi con: Giao cháu Đinh V n Thiên , sinh ngày 22/9/2017 cho anh Đinh Thái S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi trưởng thành.

Ch Ngô Th T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con do anh Đinh Thái S không yêu cầu.

Ch Ngô Th T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Không ai được l m dụng việc thăm nom con chung để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung. Nếu ai vi ph m thì người kia có quyền yêu cầu Tòa án h n chế quyền thăm nom con chung.

Sau khi ly hôn, vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy đ nh của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các ên thì Tòa án có thể quyết đ nh thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

2.2. Về tài sản:

- Anh Đinh Thái S có nghĩa vụ giao l i cho ch Ngô Th T được quyền sở hữu tài sản anh đang quản lý gồm:

+ 01 máy giặt nhãn hiệu Blue whale Bw – 26ple màu xám, cửa trước, lo i 26 kg tr giá 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).

+ 01 máy sấy nhãn hiệu Blue whale màu xám, cửa trước lo i 30kg tr giá giá 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng).

+ 01 máy sấy công nghiệp a pha tr giá 18.000.000đ (mười tám triệu đồng)

+ 01 máy hút chân không tr giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng)

+ 01 máy là hơi nước hãng AiQi tr giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng)

+ 01 máy hơi dawer lo i 301 tr giá 2.000.000₫ (hai triệu đồng)

+ 01 máy ơm tăng áp 1,4 kg Raistar tr giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng)

+ 01 máy rửa xe Croke 2200w tr giá 700.000₫ ( ảy trăm nghìn đồng)

- Anh Đinh Thái S được quyền sở hữu tài sản anh đang quản lý gồm:

+ 01 xe máy honda, lo i Winnerx, iển kiểm soát 37H1-67488 mang tên Ngô Thái S1. Tr giá 23.000.000đ (hai mươi a triệu đồng);

+ Hệ thống giàn phơi đồ giặt là tr giá 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng);

- Anh Đinh Thái S có nghĩa vụ trả cho ch Nguyễn Th L 12.690.000đ (Mười hai triệu sáu trăm chín mươi nghìn đồng) tiền nợ mua sắt làm giàn phơi (anh S đã trả xong).

- Ch Ngô Th T được quyền sở hữu các tài sản ch đang quản lý gồm:

+ 01 xe máy honda, lo i SH mode; iển kiểm soát 37H1-700.78 đăng ký ngày 19/12/2022 màu sơn đỏ; đăng ký mang tên Ngô Th T tr giá 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng)

+ 01 máy hút ụi nhãn hiệu cleprox x1/40in tr giá 1.200.000đ (một triệu, hai trăm nghìn đồng)

+ Số tiền mặt mà ch T đang giữ là 90.000.000₫ (chín mươi triệu đồng)

- Ch Ngô Th T có nghĩa vụ trích l i tiền chênh lệch chia tài sản cho anh Đinh Thái S là 82.465.000đ (T7 mươi hai triệu ốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Trả cho ông Đinh Văn Đ và bà Lê Th H 112.775.000₫ (một trăm mười hai triệu, ảy trăm ảy mươi lăm nghìn đồng). Anh Đinh Thái S được quyền sở hữu số tiền 82.465.000đ (Tám mươi hai triệu ốn trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) do ch T trích l i chênh lệch chia tài sản. Ông Đinh Văn Đ và bà Lê Th H được quyền sở hữu 112.775.000₫ (một trăm mười hai triệu, ảy trăm ảy mươi lăm nghìn đồng) do ch T giao trả.

3. Về án phí:

Án phí sơ thẩm: Ch Ngô Th T phải ch u 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 9.025.000 đồng án phí chia tài sản. Được trừ đã nộp 300.000 đồng theo iên lai số 0008770 ngày 21/3/2023 và 6.750.000 đồng đã nộp theo iên lai số 0008872 ngày 10/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Thái Hòa.

Anh Đinh Thái S phải nộp 9.025.000 đồng án phí chia tài sản. Được trừ đã nộp 300.000 đồng theo iên lai số 0008770 ngày 21/3/2023 và 6.750.000 đồng đã nộp theo iên lai số 0001324 ngày 16/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Thái Hòa.

Án phí phúc thẩm: Ông Đinh Văn Đ và anh Đinh Thái S không phải ch u án phí phúc thẩm.

4. Các phần của ản án sơ thẩm không có kháng cáo, không kháng ngh có hiệu lực kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng ngh .

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ