vanban.org

Bản án 05/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V.

Buộc bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị L số tiền 532.047.000 đồng (năm trăm ba mươi hai triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Trong đó 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc và 182.047.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu không tră… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Trần Thị L "Hợp đồng vay" Tô Thị Kim L, Trần Văn V"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-ST
Ngày: 05-02-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị The

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Danh Văn Hoàng

+ Ông Nguyễn Thành Khoang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An.

Ngày 05 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 172/2023/TLST-DS ngày 08/12/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐXXST-DS ngày 15/01/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số 128 ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

- Bị đơn:

1. Bà Tô Thị Kim L1, sinh năm 1985. (Có mặt)

2. Ông Trần Văn V, sinh năm 1982. (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 128 ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Long An. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15/11/2023 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 17/5/2021 (âm lịch) vợ chồng bà Tô Thị Kim L1, ông Trần Văn V vay của bà số tiền 350.000.000 đồng, hẹn 03 tháng trả, với mức lãi suất 2%/tháng, có viết biên nhận. Đến hạn trả nợ, bà yêu cầu bà L1, ông V trả nợ cho bà nhưng bà L1, ông V cố tình không trả nợ cho bà.

Bà Trần Thị L khởi kiện yêu cầu bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V trả 350.000.000 đồng và tiền lãi với mức lãi suất 2%/tháng từ ngày 17/5/2021 (âm lịch).

Tại phiên tòa, bà Trần Thị L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V trả 350.000.000 đồng tiền vay gốc và thay đổi yêu cầu tiền lãi, tính tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 17/5/2021 (âm lịch) đến nay.

Bị đơn bà Tô Thị Kim L1 trình bày: Bà thống nhất lời trình bày của bà Trần Thị L, vợ chồng bà có vay của bà L số tiền 350.000.000 đồng vào ngày 17/5/2021 (âm lịch), bà có viết biên nhận, với lãi suất 2%/tháng để mua máy kobe làm ăn. Sau đó do dịch bệnh làm ăn khó khăn nên không có tiền trả cho bà L. Trước yêu cầu khởi kiện của bà L, bà đồng ý trả 350.000.000 đồng tiền vay gốc và tiền lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng từ ngày 17/5/2021 (âm lịch) đến nay nhưng xin trả dần mỗi tháng 15.000.000 đồng.

Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã thông báo các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông Trần Văn V không thể hiện ý kiến.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông là chồng của bà Trần Thị L, ông thống nhất yêu cầu khởi kiện của bà L, không có ý kiến khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V có nơi cư trú tại ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc vắng mặt bị đơn: Ông Trần Văn V được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông V.

Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không ai yêu cầu áp dụng thời hiệu nên không đề cập.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T vào ngày 26/4/2004. Bà Tô Thị Kim L1 thừa nhận ngày 17/5/2021 (âm lịch) vợ chồng bà có vay của bà Trần Thị Loan số tiền 350.000.000 đồng. Căn cứ biên nhận vay tiền (bản chính) ngày 17/5/2021 do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung: “Tôi tên Tô Thị Kim L1. Địa chỉ: Ấp B, xã T, V, Long An có nhận của bà Trần Thị L số tiền 350.000.000 (ba trăm năm mươi triệu đồng chẳn), người vay tiền Tô Thị Kim L1” được bà Tô Thị Kim L1 thừa nhận là chữ viết của bà. Biên nhận nêu trên không thể hiện việc thỏa thuận thời gian trả nợ cho bên vay, bà Trần Thị L cho rằng thỏa thuận 03 tháng sẽ trả. Bà Tô Thị Kim L1 thừa nhận thời hạn vay vài tháng sẽ trả và cho rằng do dịch bệnh xảy ra làm ăn khó khăn nên vợ chồng bà chưa có tiền trả cho bà L. Cho thấy bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc yêu cầu bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V trả 350.000.000 đồng tiền vay gốc là có căn cứ.

Về tiền lãi: Bà Trần Thị L và bà Tô Thị Kim L1 thống nhất thỏa thuận lãi khi vay là 2%/tháng. Tại phiên tòa bà Trần Thị L yêu cầu bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V trả lãi với mức lãi suất 1,66%/tháng là phù hợp với mức lãi suất được quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự. Ngày xác lập hợp đồng vay là ngày 17/5/2021 âm lịch nên quy đổi thành ngày dương lịch là ngày 26/6/2021. Cách tính lãi cụ thể như sau: 350.000.000 đồng x 1,66% x 31 tháng 10 ngày (26/6/2021 - 05/02/2024) = 182.047.000 đồng.

Việc bà Tô Thị Kim L1 xin trả dần mỗi tháng 15.000.000 đồng không được bà Trần Thị L đồng ý và pháp luật không quy định việc trả dần nên không chấp nhận. Từ những lập luận trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L.

Đối với ông Nguyễn Văn H là chồng của bà Trần Thị L, ông thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của bà L, không có ý kiến khác nên Tòa án không xem xét.

Về án phí: Bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho bà Trần Thị L. Bà Trần Thị L được hoàn lại tiền tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 463, 466, 468, 469, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị L về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản với bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V.

Buộc bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Thị L số tiền 532.047.000 đồng (năm trăm ba mươi hai triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng). Trong đó 350.000.000 đồng (ba trăm năm mươi triệu đồng) tiền vay gốc và 182.047.000 đồng (một trăm tám mươi hai triệu không trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) tiền lãi.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí:

Buộc bà Tô Thị Kim L1 và ông Trần Văn V phải liên đới chịu 25.282.000 đồng (hai mươi lăm triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

Hoàn lại cho bà Trần Thị L 13.190.000 đồng (mười ba triệu một trăm chín mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng ngày 08/12/2023 theo biên lai số 0002378.

Báo cho nguyên đơn, bị đơn có mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ