vanban.org

Bản án 05/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng O.

Buộc ông Huỳnh Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Hoàng O số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi mươi lăm triệu đồng), thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất đượ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng O.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-ST
Ngày: 18-01-2024
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ ĐÔNG – TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thành Thạnh Tiến.

Ông Trần Văn Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tuấn Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

Ngày 18 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 98/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1984 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện G, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O trình bày:

Do là bà O và ông Huỳnh Văn C là bạn bè nên vào ngày 08/3/2022, bà O cho ông C vay số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), không thoả thuận lãi suất. Giữa hai bên có lập “Giấy mượn tiền” cùng ngày, văn bản này do chồng bà O là ông Nguyễn Minh K viết hộ, cuối văn bản, bà O ký tên ghi họ tên dưới mục “Người cho mượn”, ông C ký tên ghi họ tên dưới mục “Người mượn”. Ông C hẹn đúng 01 năm sẽ trả tiền cho bà O, nội dung này cũng được ghi trong văn bản. Tuy nhiên, khi đến hẹn, bà O nhiều lần yêu cầu ông C trả tiền nhưng ông C không thực hiện và cố tình lánh mặt. Do đó, bà O khởi kiện yêu cầu ông C phải trả cho bà số tiền 25.000.000 đồng, thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, bà O không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn ông Huỳnh Văn C đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng ông C vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà O.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà O có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông C vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Huỳnh Văn C mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà O, ông C.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hoàng O: Bà O yêu cầu ông Huỳnh Văn C phải trả cho bà số tiền vay còn nợ là 25.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình bà O đã cung cấp cho Tòa án Bản chính 01 Văn bản có tiêu đề là “Giấy mượn tiền” ngày 08/3/2022. Văn bản này có thể hiện nội dung “Tôi tên: Huỳnh Văn C sinh năm 1978 số chứng minh 311541843 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 01/6/2012. Địa chỉ thường trú: ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Tôi có mượng của chị Nguyễn Hoàng O sinh năm 1984: số CMND: xxxxxxxxx do Công an Tiền Giang cấp ngày 10/01/2008 số tiền mượng 25.000.000đ Hai mươi lăm triệu đồng. Lý do mượng tiền làm mua bò nuôi. Hẹn tôi mượng đúng 1 năm trả tiền cho chị O. Nếu không đúng lời hứa anh C sẽ chịu trước pháp luật. Phú Thạnh ngày 8/3/2022”, đồng thời tại mục “Người mượn” ở cuối văn bản có chữ ký và chữ viết mang tên “Huỳnh Văn C”. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù ông C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông C vẫn cố tình vắng mặt không gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh sự phản đối đó. Nếu ông C không thừa nhận số nợ trên thì phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, trong suốt quá trình tố tụng, ông C vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, không thể hiện ý chí phản đối chứng cứ và tài liệu mà bà O cung cấp thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, xác định hợp đồng vay tài sản giữa ông C và bà O là có thật và ông C phải có trách nhiệm trả số tiền vay còn nợ cho bà O. Vì vậy, bà O yêu cầu ông C trả số tiền nợ là 25.000.000 đồng là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về lãi suất: Bà O trình bày hai bên không thoả thuận lãi suất khi cho vay. Ông C vắng mặt và không có ý kiến đối với vấn đề có hay không có lãi suất trong thoả thuận giữa hai bên. Mặt khác, bà O không yêu cầu ông C phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ: Bà O yêu cầu ông C thực hiện trả số tiền còn nợ khi bản án có hiệu lực pháp luật. Xét việc xác định thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên tự thỏa thuận. Ông C vắng mặt nên không thỏa thuận được với bà O. Việc ông C chậm thanh toán nợ là ảnh hưởng đến quyền lợi của bên có quyền do đó yêu cầu của bà O buộc ông C trả tiền ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà O được chấp nhận nên ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Án phí ông C phải nộp được xác định: 25.000.000 đồng x 5% = 1.250.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng O.

Buộc ông Huỳnh Văn C có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Hoàng O số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi mươi lăm triệu đồng), thực hiện khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên có nghĩa vụ chậm thực hiện thì phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền, mức lãi suất được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí:

Ông Huỳnh Văn C phải nộp 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn lại cho bà Nguyễn Hoàng O tiền tạm ứng án phí đã nộp là 625.000 đồng (Sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0008710 ngày 18/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang.

3. Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ