- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/DS-ST Ngày: 17 – 01 – 2024 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Triệu Láth.
2. Ông Thái Trung Nghĩa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Bà Phạm Thị Diệp – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 244/2023/TLST-DS ngày 15 tháng 8 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 105/2023/QĐST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N .
Địa chỉ: Số nhà 02 đường L , Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Hoài Ph , sinh năm 1985 (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 45C đường Ng , khóm A, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Ông Châu Văn M , sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 45 ấp Th , xã H , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị B , sinh năm 1989 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 45 ấp Th , xã H , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17/7/2023 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền ông Nguyễn Hoài Ph trình bày:
Ngày 25/7/2018, Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Châu Văn M đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800703. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông M vay số tiền 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm; lãi suất 10,5%/năm; trả lãi hàng quý, thời hạn vay là 12 tháng, trả nợ gốc 1 lần khi đến hạn.
Ông Châu Văn M và bà Phan Thị B đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/HĐ/28/2017/HĐTC ngày 02/3/2017, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số CB 712388, diện tích 8.281,4m2 tại thửa số 1105 tờ bản đồ số 3 tọa lạc tại ấp Th , xã H , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; được Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho ông Châu Văn M và bà Phan Thị B ngày 24/11/2016.
Tính đến ngày 17/01/2024, ông Châu Văn M và bà Phan Thị B còn nợ của Ngân hàng tổng cộng là 306.124.589đ (ba trăm lẻ sáu triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi chín đồng) trong đó tiền nợ gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 95.852.055đ (chín mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 40.272.534đ (bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông M – bà B yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ nêu trên, tuy nhiên ông M – bà B vẫn không thực hiện.
Nay, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông M – bà B phải thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, ông M – bà B còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ.
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng yêu cầu Tòa án phát mãi tài sản trong trường hợp ông M – bà B không thanh toán nợ cho Ngân hàng.
Tuy nhiên, tại Phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện là không yêu cầu phát mãi tài sản.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ Ngân hàng tự nguyện chịu.
Đối với bị đơn Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông M và bà B không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, ông M và bà B cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 29/12/2023, ông M và bà B vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai ông Mừng và bà Bích vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Mừng và bà Bích theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 17/01/2024, tổng cộng là 306.124.589đ (ba trăm lẻ sáu triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi chín đồng) trong đó tiền nợ gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 95.852.055đ (chín mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 40.272.534đ (bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng). Đồng thời, vợ chồng ông M – bà B còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 18/01/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn xin rút yêu cầu việc xử lý tài sản để thi hành án. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, không vượt quá phạm vi và yêu cầu khởi kiện nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Bị đơn ông Châu Văn M cư trú tại ấp Th , xã H , thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, người địa diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt ông Châu Văn M và bà Phan Thị B .
Về nội dung giải quyết:
Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800703 ngày 25/7/2018. Ông M đã nhận đủ số tiền vay là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm. Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800703 ngày 25/7/2018 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và ông M đã nhận đủ tiền vay là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Sau khi vay được tiền, ông M đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800703 ngày 25/7/2018 có lãi suất thỏa thuận là 10,5%/năm; trả lãi hàng quý. Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông M đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Mừng phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B liên đới trả tiền các khoản nợ trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, việc vay tiền của ông M là để nuôi Tôm, cùng phát triển kinh tế gia đình, mục đích là tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình. Ông M và bà B là vợ chồng, cùng lao động, cùng sinh hoạt trong gia đình. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông M và bà B cùng liên đới trả các khoản nợ vốn và lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 18/01/2024, vợ chồng ông M và bà B còn phải tiếp tục liên đới chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên đơn xin rút yêu cầu việc xử lý tài sản để thi hành án. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn, không vượt quá phạm vi và yêu cầu khởi kiện nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Ngân hàng đã nộp xong.
Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng ông Châu Văn M và bà Phan Thị B phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B , về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng N dư nợ tính đến ngày 17/01/2024 tổng cộng là 306.124.589đ (ba trăm lẻ sáu triệu một trăm hai mươi bốn nghìn năm trăm tám mươi chín đồng) trong đó tiền nợ gốc là 170.000.000đ (một trăm bảy mươi triệu đồng), lãi trong hạn là 95.852.055đ (chín mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai nghìn không trăm năm mươi lăm đồng), lãi quá hạn là 40.272.534đ (bốn mươi triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng).
Đồng thời ông M và bà B còn phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 18/01/2024 cho đến khi trả xong số nợ gốc.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án.
3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ngân hàng tự nguyện chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), Ngân hàng đã nộp xong.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Châu Văn M và bà Phan Thị B phải liên đới chịu là 15.306.229đ (mười lăm triệu ba trăm lẻ sáu nghìn hai trăm hai mươi chín đồng).
Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 7.325.676đ (bảy triệu ba trăm hai mươi lăm nghìn sáu trăm bảy mươi sáu đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008466 ngày 15/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
6. Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Bị đơn ông Châu Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
| Nơi nhận: - VKSND thị xã Vĩnh Châu; - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu; - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |