vanban.org

Bản án 05/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/12/2024 là 59.698.592 đồng (trong đó nợ gốc là 45.886.789 đồng). Kể từ ngày 26/12/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh M còn phải chịu tiền lãi, phí của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP S và Nguyễn Văn M"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 103 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 116 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ QUẾ VÕ
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2024/DS-ST
Ngày: 26/12/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng
tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Minh Đức

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ

Ông Nguyễn Quang Tuyến

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Khánh – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 94/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ: Số 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, phường Võ Thị Sáu, Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1987 – Trường phòng giao dịch Quế Võ thuộc Chi nhánh Bắc Ninh. Địa chỉ: Số 100, Khu 1, phường Phố Mới, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh 2001. Địa chỉ: khu phố Vũ Dương, phường Bồng Lai, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Đại diện nguyên đơn là anh Nguyễn Văn P trình bày:

Ngày 02/11/2023 anh Nguyễn Văn M có ký với Ngân hàng TMCP S Chi nhánh Bắc Ninh - PGD Quế Võ (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, số thẻ 436438 - 2414, số tài khoản thẻ: 3586742946. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, anh Nguyễn Văn M đã thực hiện các giao dịch thanh toán, tổng dư nợ tính đến ngày 25/12/2024 là 59.698.592 đồng. Trong đó, dư nợ gốc của khoản vay là: 45.886.789 đồng, lãi suất: 29,8%/năm. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần gọi điện, gửi thư mời lên làm việc, đến gia đình làm việc để yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ. Tuy nhiên, ông M và gia đình không hợp tác, hiện vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại các Hợp đồng tín dụng đã ký. Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 25/12/2024 là 59.698.592 đồng. Và phải tiếp tục thanh toán các khoản tiền phí, tiền lãi và lãi quá hạn phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng mở thẻ và sử dụng thẻ tín dụng.

Quá trình giải quyết vụ án TAND thị xã Quế Võ đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Văn M, nhưng đến nay anh M không đến Tòa án làm việc và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với Ngân hàng TMCP S đã tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Anh Nguyễn Văn M không chấp hành tốt nghĩa vụ tham gia tố tụng. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 116, 117, 118, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc anh Nguyễn Văn M phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/12/2024 là 59.698.592 đồng. Kể từ ngày 26/12/2024 anh Nguyễn Văn M phải tiếp tục trả tiền lãi, phí cho Ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng cho tới khi thanh toán xong hết các khoản nợ.

- Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng với anh Nguyễn Văn M có địa chỉ tại khu phố Vũ Dương, phường Bồng Lai, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã Quế Võ.

Đại diện Ngân hàng TMCP S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Ngày 02/11/2023 anh Nguyễn Văn M có ký kết với Ngân hàng TMCP S giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 18537974, hợp đồng này đều được các bên tự nguyện ký kết, không vi phạm điều cấm của pháp luật nên đều có hiệu lực pháp luật. Ngân hàng đã cấp cho anh M 01 thẻ tín dụng với hạn mức là 40.000.000 đồng. Sau đó, anh M sử dụng thẻ tín dụng để thực hiện các giao dịch thanh toán. Tuy nhiên, anh M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ thẻ tín dụng cho Ngân hàng. Tính đến ngày 25/12/2024 tổng số tiền dư nợ thẻ tín dụng của anh M là 59.698.592 đồng (trong đó nợ gốc là 45.886.789 đồng). Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu anh M phải trả số tiền nợ nêu trên là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 116, 117, 118, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 26, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

Buộc anh Nguyễn Văn M phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 25/12/2024 là 59.698.592 đồng (trong đó nợ gốc là 45.886.789 đồng).

Kể từ ngày 26/12/2024 cho đến khi thi hành án xong, anh M còn phải chịu tiền lãi, phí của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại “Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân số 18537974” ngày 02/11/2023.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn M phải chịu 2.984.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho Ngân hàng TMCP S 1.372.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000750 ngày 25/10/2024 của Chi cục THADS thị xã Quế Võ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ