- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "“Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 40, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/1…
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N H TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2024/DS-ST Ngày: 06-6-2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N H, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Đình Nam
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Huỳnh Tấn Thương
2. Bà Nguyễn Thị Kiều Hoanh.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Quỳnh Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện N H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N H tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thy - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2024/QĐST-DS ngày 07/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi V T, sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Tổ dân phố Phú V T, thị trấn C C, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt tại phiên tòa.
Bị đơn: Ông P L, sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Tổ dân phố Phú V T, thị trấn C C, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13/10/2023 và các bản khai trong quá trình giải quyết
vụ và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi V T trình bày:
Vào ngày 15/7/2022, ông P L có vay của ông Bùi V T số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) và hai bên có thỏa thuận trả lãi với mức lãi suất vay là 01%/tháng, thời hạn vay là 01 năm. Trong giấy mượn tiền không ghi mức lãi suất cụ thể nhưng giữa ông T và ông L có thỏa thuận trả lãi theo mức lãi suất vay tại Ngân hàng (1%/tháng). Đến ngày 15/12/2022 ông P L có vay tiếp số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng) và viết tiếp vào mặt (trang) phía sau giấy mượn tiền ngày 15/7/2022. Tổng cộng là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng). Đến thời hạn trả nợ nhưng ông L vẫn không chịu trả, ông T đã nhiều lần đòi nợ nhưng ông L vẫn không trả và cố tình lẫn tránh nên ông Bùi V T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P L phải trả cho ông số tiền gốc là đã mượn là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng) và tiền lãi là 01%/tháng tính từ ngày 15/7/2022 đến tháng 10/2023 số tiền là 9.000.000đ (Chín triệu đồng). Tổng cộng cả gốc và lãi là 69.000.000đ (Sáu mươi chín triệu đồng). Tại phiên tòa ông Bùi V T trình bày do trong giấy mượn tiền không có ghi mức lãi suất và ông L cũng chưa trả cho ông tiền lãi nên ông xác định hợp đồng giữa ông với ông L là hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi nên ông T yêu cầu tòa giải quyết buộc ông P L phải trả cho ông số tiền gốc là 60.000.000 đồng và tiền lãi chậm trả kể từ ngày 15/7/2023 đến ngày 06/6/2024 theo mức lãi suất 0,83%/tháng là 5.345.200 đồng.
Bị đơn ông P L vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N H phát biểu ý kiến:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng.
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng quy định.
Về quan hệ tranh chấp: Xác định đúng quan hệ tranh chấp theo khoản 3 Điều 26 BLTTDS.
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Đúng thẩm quyền quy định tại Điều 35 BLTTDS.
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
* Về nội dung: Căn cứ các Điều 26, 35, 91, 92, 96, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 3 Điều 40, các Điều 357, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQQ-HĐTP ngày 05/5/2017; Điều 5 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326 của UBTVQH đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Bùi V T. Buộc ông P L phải trả tổng số tiền là 65.345.200 đồng, trong đó nợ gốc là 60.000.000 đồng, nợ lãi là 5.345.200 đồng.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Hoàn trả tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Ông Bùi V T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông P L phải trả cho ông số tiền đã vay vào ngày 15/7/2022 và ngày 15/12/2022 nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn ông P L có nơi cư trú tại thị trấn C C, huyện N H, tỉnh Quảng Ngãi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện N H.
[1.2] Bị đơn ông P L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Theo ông Bùi V T trình bày thì vào ngày 15/7/2022, ông P L có mượn của ông số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), đến ngày 15/12/2022 có mượn thêm của ông T số tiền là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), có giấy mượn tiền nhưng đến nay vẫn chưa trả. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bị đơn vẫn không đến Tòa án để làm việc và cũng không phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên thuộc những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại Giấy mượn tiền do nguyên đơn giao nộp có nội dung “Tôi tên P L ở thôn Phú V T, thị trấn C C có mượn của ông Bùi V T ở thôn Phú V T, thị trấn C C với số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng chẵn, đúng 1 năm tôi sẽ hoàn trả năm chục triệu cho anh T” và “Tôi là P L có mượn thêm của anh Bùi V T là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), tổng cộng là 60.000.000 (Sáu mươi triệu). Khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án”. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định vào ngày 15/7/2022 ông P L có vay của ông Bùi V T số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) và ngày 15/12/2022 có vay thêm của ông T là 10.000.000đ (Mười triệu đồng), tổng cộng là 60.000.000đ (Sáu mươi triệu đồng), vay có kỳ hạn và không có lãi. Khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “ Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả...”; mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự được xác định là 10%/ năm tương ứng 0.83 %/ tháng. Do đó yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận. Buộc ông P L phải trả cho ông Bùi V T số tiền 65.345.200đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm đồng); trong đó tiền gốc là 60.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 15/7/2023 đến ngày 06/6/2024 là 5.345.200đồng (cách tính: 60.000.000đồng × 0.83%/tháng×10 tháng 22 ngày = 5.345.200đồng).
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông P L phải chịu 3.267.260 đồng (Ba triệu, hai trăm sáu mươi bảy nghìn, hai trăm sáu mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn 1.725.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N H phù hợp với nhận định trên của Hội đồng xét xử .
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 91, Điều 92, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 3 Điều 40, Điều 463, Điều 465, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi V T.
Buộc ông P L phải trả cho ông Bùi V T số tiền 65.345.200đồng (Sáu mươi lăm triệu ba trăm bốn mươi lăm nghìn hai trăm đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông P L phải chịu 3.267.260đồng (Ba triệu hai trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm sáu mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho Bùi V T 1.725.000 đồng (Một triệu bảy trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000221 ngày 13/10/2023 của Chi cục Thi hành án huyện N H.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện N H; - CCTHADS huyện N H; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Nam |