- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "VCb - Th"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H.
- Căn cứ chính? Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 05/2023/KDTM-ST Ngày: 19 - 5 - 2023 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ X, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Việt
2. Bà Hồ Thị Kim Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Phan Hưng - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố X, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 338/2022/TLST-DS ngày 28 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2023/QĐXXST-DS ngày 30 tháng 3 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơnNgân hàng thương mại cổ phần V (V BANK)
Trụ sở: Số 198 phố Tr, phường L, quận K, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Du M, chức vụ: Giám đốc V BANK Chi nhánh An Giang
Nơi làm việc: V BANK Chi nhánh An Giang, số 26 đường Tr1, phường L1, thành phố X, tỉnh An Giang
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Quốc Duy K, chức vụ: Phó trưởng phòng phụ trách PGD ML;
Nơi làm việc: V BANK An Giang - Phòng Giao dịch ML, số 296, tỉnh lộ 942, thị trấn ML, huyện C, tỉnh An Giang
2. Bị đơn:
- Ông Bùi Đông Th, sinh năm 1966
- Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1967
Cùng cư trú: Số 651/3B, khóm Đông Th 3, phường Mỹ Ph, thành phố X, tỉnh An Giang
Người đại diện theo ủy quyền của ông Th, bà H là: ông Trần Văn Ngh, sinh năm 1956, cư trú: số 53 đường NVS, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Bùi Thị Thu Ng, sinh năm 1963;
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962
Cùng cư trú: số 33 TQP, khóm Đông Th 3, phường Mỹ Ph, thành phố X, tỉnh An Giang
Người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà Ng là: ông Trần Văn Ngh, sinh năm 1956, cư trú: số 53 đường NVS, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang
- Ông Đặng Văn Th1, sinh năm 1960
Cư trú: số 73 LTT, khóm 7, phường L1, thành phố X, tỉnh An Giang.
- Ông Nguyễn Thanh Q, sinh năm 1963
- Bà Lê Kim V, sinh năm 1960
Cùng địa chỉ: số 147 đường THĐ, phường B, thành phố X, tỉnh An Giang.
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X
Trụ sở: đường Nguyễn Biểu, Tổ 13, khóm ĐH, phường Đ, thành phố X, tỉnh An Giang
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Trung H1, chức vụ: Chi cục trưởng.
Tại phiên tòa, ông Bùi Đông Th, bà Huỳnh Thị Kim H, ông Trần Văn Ngh, bà Bùi Thị Thu Ng, ông Nguyễn Văn H, ông Đặng Văn Th1, bà Lê Kim V và đại diện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X đều vắng mặt; ông Nguyễn Quốc Duy K và ông Nguyễn Thanh Q có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình làm việc, hòa giải, giải quyết vụ án, Ngân hàng thương mại cổ phần V (viết tắt là Ngân hàng V) do ông Nguyễn Quốc Duy K đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào ngày 01 tháng 10 năm 2020, ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H với Ngân hàng V có ký kết Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020; để Ngân hàng cho ông Th, bà H vay số tiền 2.000.000.000 đồng với thời hạn duy trì hạn mức cho vay là 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng này; thời hạn cho vay của mỗi khoản nợ tối đa là 06 tháng; lãi suất cho vay được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo cho vay của ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 5%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; mục đích cho vay là phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Thực hiện hợp đồng này, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Th, bà H số tiền tổng cộng là 2.000.000.000 đồng, tuy nhiên ông Th, bà H lại không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, trả lãi. Tính đến ngày 20 tháng 6 năm 2022, tổng số dư nợ của ông Th, bà H đối với khoản vay này là 2.066.614.564 đồng; trong đó: nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 52.011.824 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.602.740 đồng.
Ngày 19 tháng 3 năm 2021, ông Bùi Đông Th và Ngân hàng V có ký kết Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng để Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng cho ông Th với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng (thẻ VISA); thời hiệu có hiệu lực của thẻ (thời hạn vay) là 60 tháng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Th đã nhiều lần rút tiền và trả lại. Tuy nhiên đến ngày 29 tháng 11 năm 2022 thì ông Th đã không còn thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng nên dư nợ còn lại là 38.723.997 đồng; trong đó: nợ gốc là 29.846.628 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.018.104 đồng, nợ lãi quá hạn 4.743.265 đồng, phí thẻ 116.000 đồng.
Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên, ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng đã thế chấp tài sản cho Ngân hàng V theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020 và Phụ lục số 01 ngày 01 tháng 10 năm 2020 kèm theo hợp đồng thế chấp số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020. Tài sản thế chấp cụ thể là quyền sử dụng thửa đất số 140, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh An Giang, diện tích: 1268,5m2; hình thức sử dụng riêng; mục đích sử dụng đất ở 89m2, đất trồng cây lâu năm 1179,5m2; thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài; đất trồng cây lâu năm: đến ngày 01 tháng 7 năm 2064; nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 89m2; nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 1179,5m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS06951 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 5 năm 2020 cho ông Nguyễn Thanh Q, bà Lê Kim V; nhưng thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng theo hồ sơ số: 8677/20 xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh X ngày 11 tháng 9 năm 2000.
Ngân hàng V đã nhiều lần làm việc trực tiếp và có văn bản yêu cầu ông Th, bà H thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với các khoản vay nêu trên, nhưng cho đến nay ông Th, bà H không thực hiện trả toàn bộ nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng, liên tiếp vi phạm nghĩa vụ, cố tình không hợp tác xử lý nợ.
Vì vậy, Ngân hàng V yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V (do Ngân hàng V - Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền còn nợ, cụ thể:
+ Đối với khoản vay thứ nhất theo Hợp đồng cho vay hạn mức: số tiền nợ tạm tính đến hết ngày 20 tháng 6 năm 2022, tổng số dư nợ của ông Th, bà H đối với khoản vay này là 2.066.614.564 đồng; trong đó: nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 52.011.824 đồng, nợ lãi quá hạn là 14.602.740 đồng. Và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh tiếp theo cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020.
+ Đối với khoản vay thứ nhất theo Đề nghị phát hành thẻ: số tiền nợ tạm tính đến ngày 29 tháng 11 năm 2022 thì ông Th đã không còn thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng nên dư nợ còn lại là 38.723.997 đồng; trong đó: nợ gốc là 29.846.628 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.018.104 đồng, nợ lãi quá hạn 4.743.265 đồng, phí thẻ 116.000 đồng; và toàn bộ các khoản lãi, lãi quá hạn, phí phát sinh tiếp theo cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ theo Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 19 tháng 3 năm 2021.
- Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020 và Phụ lục số 01 ngày 01 tháng 10 năm 2020 kèm theo hợp đồng thế chấp số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020 để đảm bảo thi hành án.
- Trường hợp ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của bên thứ ba số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020 và phụ lục kèm theo để đảm bảo cho việc thi hành án.
Bị đơn ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H do ông Trần Văn Ngh đại diện trình bày: Thống nhất trả nợ cho ngân hàng nhưng cần tính toán lại số tiền lãi và phương án trả nợ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Q trình bày:
Ông là người được thi hành án theo Bản án số 78/2022/DS-ST ngày 24 tháng 6 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố X. Theo đó ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông và bà Lê Kim V số tiền nợ gốc 5.000.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh.
Chi cục thi hành án dân sự thành phố X đã ban hành Quyết định số 01/QĐ.CCTHA ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc cưỡng chế kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 140, tờ bản đồ số 18, diện tích 1.268,5m2 tọa lạc tại phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh An Giang do Sở Tài nguyên môi trường tỉnh An Giang cấp cho ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng. Tài sản này đang được thế chấp tại Ngân hàng V - Chi nhánh An Giang theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 130/2020/VCB-ML ngày 23 tháng 9 năm 2020 và phụ lục kèm theo. Việc cưỡng chế kê biên là để thi hành án cho người được thi hành án Đặng Văn Th1, Nguyễn Thanh Q, Lê Kim V.
Nay việc giải quyết tranh chấp giữa Ngân hàng với bị đơn và ông H, bà Ng không làm thay đổi nghĩa vụ của ông H, bà Ng đối với ông; nhưng liên quan đến việc thi hành bản án cho ông.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác: Không cung cấp ý kiến, tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng các đương sự có mặt không hòa giải được với nhau về việc giải quyết vụ án, nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại phiên tòa:
- Ngân hàng V do ông Khương đại diện trình bày: (1) Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020. Khoản vay này Ngân hàng cho ông Th, bà H vay là để phục vụ mục đích kinh doanh, ông Th, bà H có đăng ký kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh. (2) Đối với khoản vay theo Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng để Ngân hàng phát hành thẻ tín dụng: thẻ tín dụng này được cấp cho cá nhân ông Th, do ông Th đứng ra ký kết hợp đồng với Ngân hàng; vì vậy, Ngân hàng rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu bà H có nghĩa vụ liên đới trả khoản vay này mà chỉ yêu cầu ông Th phải có nghĩa vụ trả khoản vay này. Cụ thể, Ngân hàng V yêu cầu trả nợ gốc, lãi phát sinh đến khi trả hết nợ:
+ Ông Th, bà H có nghĩa vụ liên đới trả số tiền tính đến hết ngày 18 tháng 5 năm 2023 là 2.249.217.854 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 170.243.465 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.904.110 đồng, nợ lãi tính trên nợ lãi quá hạn là 5.070.279 đồng theo Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020.
+ Ông Th có nghĩa vụ trả số tiền tính đến hết ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với thẻ VISA là 48.099.305 đồng, trong đó: nợ gốc là 29.846.628 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.896.042 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.240.635 đồng.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh Q: giữ nguyên ý kiến đã trình bày, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án nhanh chóng để ông sớm được thi hành án.
- Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: vắng mặt tại phiên tòa và không cung cấp ý kiến.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, là đảm bảo theo đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: xét thấy các hợp đồng đều do các bên tự nguyện giao kết. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo các hợp đồng tín dụng. Đối với bị đơn, thống nhất với số tiền mà nguyên đơn đã nêu nhưng có yêu cầu tính lại lãi và phương thức trả nợ. Tại phiên toà nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với bà Huỳnh Thị Kim H về việc yêu cầu bà H liên đới trả số tiền nợ theo Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng. Do đó, căn cứ vào các chứng cứ nguyên đơn cung cấp thể hiện các bên có giao kết hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, không trái đạo đức xã hội, không vi phạm pháp luật, nội dung các bên đã thỏa thuận quyền và nghĩa vụ các bên, số tiền, mục đích vay và thời hạn vay, phương thức trả nợ, cam kết trả nợ,... do đó giao kết hợp đồng các bên có giá trị pháp lý. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả vốn gốc, lãi là có cơ sở theo quy định tại các Điều 463, 466, 470 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V. Buộc ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền 2.000.000.000 đồng nợ gốc và tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức. Buộc ông Bùi Đông Th phải trả cho ngân hàng số tiền nợ gốc 29.846.628 đồng và tiền lãi phát sinh theo Giấy đề nghị phát hành thẻ. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bà Huỳnh Thị Kim H về việc yêu cầu bà H liên đới trả số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị phát hành thẻ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi theo Hợp đồng tín dụng. Khi khởi kiện và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh bị đơn có đăng ký kinh doanh; nên Tòa án xác định thụ lý loại án dân sự là đúng quy định tại Điều 26, Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn cung cấp được chứng cứ chứng minh người vay tiền ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H có đăng ký kinh doanh, mục đích vay để phục vụ hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận; nên Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố X, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố X.
Về thủ tục tố tụng: ông Bùi Đông Th, bà Huỳnh Thị Kim H, ông Trần Văn Ngh, bà Bùi Thị Thu Ng, ông Nguyễn Văn H, ông Đặng Văn Th1, bà Lê Kim V và đại diện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X đều đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không lý do; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung tranh chấp:
Căn cứ hồ sơ vụ án thể hiện: giữa Ngân hàng V và ông Th, bà H có xác lập Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020 để ông Th, bà H thực hiện vay vốn gốc 2.000.000.000 đồng. Ngân hàng V và ông Th xác lập Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 19 tháng 3 năm 2021 để ông Th thực hiện sử dụng thẻ tín dụng rút khoản vay hạn mức 30.000.000 đồng. Tại Hợp đồng cho vay và Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng này (gọi chung là hợp đồng tín dụng), các bên đã thỏa thuận về thời hạn vay, lãi suất, phương thức thanh toán như nguyên đơn trình bày. Quá trình vay vốn ông Th, bà H đã vi phạm nghĩa vụ khi không thực hiện trả nợ gốc, nợ lãi như thỏa thuận mà các bên xác lập. Bị đơn cũng thừa nhận việc giao kết các hợp đồng tín dụng dưới hình thức hợp đồng cho vay theo hạn mức và đề nghị phát hành thẻ tín dụng; thừa nhận số tiền còn nợ Ngân hàng V là số tiền mà Ngân hàng đã trình bày. Xét thấy: các hợp đồng nêu trên đều được các bên giao kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Các bên đã tự nguyện thực hiện hợp đồng được một thời gian thì bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện đúng các nội dung đã thỏa thuận giao kết. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng V. Các hợp đồng tín dụng được xác lập vào các năm 2020, 2021; các bên có thỏa thuận về các loại lãi, phí cụ thể trong hợp đồng; nên khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu các khoản lãi, phí như đã thỏa thuận. Do đó, việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi là có cơ sở.
Đối với khoản vay theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng: hợp đồng này được ông Th ký kết với Ngân hàng V. Nguyên đơn không có tài liệu, chứng cứ chứng minh: bà H cùng ông Th giao kết hợp đồng này, bà H biết về khoản vay này, khoản vay này được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình theo Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Tại phiên tòa, đại diện của Ngân hàng V rút lại yêu cầu khởi kiện buộc bà H có nghĩa vụ liên đới với ông Th trả số tiền vay theo Đề nghị phát hành thẻ, chỉ yêu cầu ông Th trả khoản vay này là phù hợp với quy định pháp luật.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V:
Buộc ông Th, bà H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng V số tiền tính đến hết ngày 18 tháng 5 năm 2023 là 2.249.217.854 đồng, trong đó: nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 170.243.465 đồng, nợ lãi quá hạn là 73.904.110 đồng, nợ lãi tính trên nợ lãi quá hạn là 5.070.279 đồng. Kể từ ngày 18 tháng 5 năm 2023, ông Th, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Buộc ông Th có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng V số tiền tính đến hết ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với thẻ VISA là 48.099.305 đồng, trong đó: nợ gốc là 29.846.628 đồng, nợ lãi trong hạn là 11.896.042 đồng, nợ lãi quá hạn là 6.240.635 đồng, phí thẻ 116.000 đồng. Kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2023, ông Th còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 19 tháng 3 năm 2021 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V về việc yêu cầu bà H liên đới với ông Th trả khoản nợ vay theo Đề nghị phát hành thẻ nêu trên.
Đối với việc thế chấp tài sản:
Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông Th, bà H thì ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng có thế chấp tài sản cho Ngân hàng V là: thửa đất số 140, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh An Giang, diện tích: 1268,5m2; hình thức sử dụng riêng; mục đích sử dụng đất ở 89m2, đất trồng cây lâu năm 1179,5m2; thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài; đất trồng cây lâu năm: đến ngày 01 tháng 7 năm 2064; nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 89m2; nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 1179,5m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS06951 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 5 năm 2020 cho ông Nguyễn Thanh Q, bà Lê Kim V; nhưng thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng theo hồ sơ số: 8677/20 xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh X ngày 11 tháng 9 năm 2000.
Hợp đồng này được các bên tự nguyện xác lập, có chứng nhận của Văn phòng công chứng và đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Qua quá trình xem xét, thẩm định tại chỗ xác định các thửa đất nêu trên và tài sản gắn liền trên đất hiện do ông H, bà Ng đang quản lý, sử dụng. Do đó, việc duy trì Hợp đồng thế chấp nêu trên để đảm bảo cho việc thi hành án là có cơ sở.
Tài sản thế chấp nêu trên hiện nay đang bị kê biên thi hành án theo Quyết định số 01/QĐ.CCTHA ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố X. Xét thấy, hợp đồng thế chấp giữa ông H, bà Ng với Ngân hàng V được xác lập trước thời điểm kê biên tài sản, nên nghĩa vụ của người thế chấp tài sản, bảo lãnh của ông H, bà Ng đã phát sinh trước thời điểm tài sản thế chấp bị kê biên thi hành án.
Vì vậy, trường hợp ông Th, bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì tài sản đã thế chấp nêu trên sẽ được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật thi hành án dân sự. Việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được Cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo Luật thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án cho các nghĩa vụ của ông H, bà Ng, ông Th, bà H.
Về chi phí tố tụng: vì yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V được chấp nhận nên ông Th, bà H có nghĩa vụ chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 200.000 đồng. Chi phí này đã được Ngân hàng nộp tạm ứng, nên ông Th, bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng V số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên Ngân hàng V không phải chịu tiền án phí sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện. Bị đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điều 30, Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Các Điều 288, 289, 299, 317, 320, 335, 336, 339, 340, 463, 466, 470, khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H.
Buộc ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H có nghĩa vụ liên đới trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V (Do Ngân hàng thương mại cổ phần V Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền tính đến hết ngày 18 tháng 5 năm 2023 là 2.249.217.854 đồng (hai tỷ hai trăm bốn mươi chín triệu hai trăm mười bảy nghìn tám trăm năm mươi bốn đồng), trong đó: nợ gốc là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng), nợ lãi trong hạn là 170.243.465 đồng (một trăm bảy mươi triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn bốn trăm sáu mươi lăm đồng), nợ lãi quá hạn là 73.904.110 đồng (bảy mươi ba triệu chín trăm linh bốn nghìn một trăm mười đồng), nợ lãi tính trên nợ lãi quá hạn là 5.070.279 đồng (năm triệu không trăm bảy mươi nghìn hai trăm bảy mươi chín đồng).
Kể từ ngày 18 tháng 5 năm 2023, cho đến khi thi hành án xong, ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng cho vay theo hạn mức số 135/2020/VCB-ML ngày 01 tháng 10 năm 2020. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với ông Bùi Đông Th.
Buộc ông Bùi Đông Th có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V (Do Ngân hàng thương mại cổ phần V Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền tính đến hết ngày 20 tháng 4 năm 2023 đối với thẻ VISA là 48.099.305 đồng (bốn mươi tám triệu không trăm chín mươi chín nghìn ba trăm linh năm đồng), trong đó: nợ gốc là 29.846.628 đồng (hai mươi chín triệu tám trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm hai mươi tám đồng), nợ lãi trong hạn là 11.896.042 đồng (mười một triệu tám trăm chín mươi sáu nghìn không trăm bốn mươi hai đồng), nợ lãi quá hạn là 6.240.635 đồng (sáu triệu hai trăm bốn mươi nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng), phí thẻ 116.000 đồng (một trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày 20 tháng 4 năm 2023, cho đến khi thi hành án xong, ông Bùi Đông Th còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất quy định trong Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 19 tháng 3 năm 2021. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
3. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần V đối với bà Huỳnh Thị Kim H về việc yêu cầu bà Huỳnh Thị Kim H liên đới với ông Bùi Đông Th trả nợ khoản vay theo Đề nghị phát hành thẻ kiêm hợp đồng ngày 19 tháng 3 năm 2021.
4. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng thương mại cổ phần V có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H không thực hiện nghĩa vụ trả số tiền nêu trên thì tài sản đã thế chấp là:
Quyền sử dụng đối với thửa đất số 140, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại phường Mỹ Xuyên, thành phố X, tỉnh An Giang, diện tích: 1268,5m2; hình thức sử dụng riêng; mục đích sử dụng đất ở 89m2, đất trồng cây lâu năm 1179,5m2; thời hạn sử dụng: đất ở: lâu dài; đất trồng cây lâu năm: đến ngày 01 tháng 7 năm 2064; nguồn gốc sử dụng: nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất: 89m2; nhận chuyển nhượng đất được công nhận QSDĐ như giao đất không thu tiền sử dụng đất: 1179,5m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số vào sổ cấp GCN: CS06951 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh An Giang cấp ngày 08 tháng 5 năm 2020 cho ông Nguyễn Thanh Q, bà Lê Kim V; nhưng thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận: chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H và bà Bùi Thị Thu Ng theo hồ sơ số: 8677/20 xác nhận của Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh X ngày 11 tháng 9 năm 2000;
Được xử lý theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật thi hành án dân sự để đảm bảo thi hành án.
5. Về chi phí tố tụng: ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H có nghĩa vụ hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần V (do Ngân hàng thương mại cổ phần V Chi nhánh An Giang đại diện nhận) số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
6. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Ngân hàng thương mại cổ phần V (Do Ngân hàng thương mại cổ phần V Chi nhánh An Giang đại diện) được nhận lại 36.666.000 đồng (ba mươi sáu triệu sáu trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000958 ngày 25 tháng 10 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố X và 968.000 đồng (chín trăm sáu mươi tám nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001079 ngày 01 tháng 12 năm 2022 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố X.
- Ông Bùi Đông Th và bà Huỳnh Thị Kim H phải liên đới chịu án phí là 76.984.300 đồng (bảy mươi sáu triệu chín trăm tám mươi bốn nghìn ba trăm đồng).
- Ông Bùi Đông Th phải chịu án phí là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng).
7. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự .
| Nơi nhận: - TAND t. An Giang (phòng KTNV-THA); - VKSND tp. X; - Các đương sự; - Chi cục THADS tp. X; - Văn phòng; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Trần Thanh Việt Hồ Thị Kim Liên | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thùy Giang THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thùy Giang |