- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Chí Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSST Ngày 06-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Bích Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Dư Thị Út
- Bà Khưu Liên Dung
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 140/2022/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 130/2022/QĐXXST-HS ngày 21/12/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Chí T (tên gọi khác: không); sinh ngày 01/01/1986, tại Vĩnh Long; nơi đăng ký thường trú: ấp Mỹ Trung 2, xã Mỹ Thạnh Trung, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: khóm 10, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1961; bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Trần Thùy D, sinh năm 1986 và có 02 người con ruột; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 04/8/2022 đến nay (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Dương Chí N, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thùy D, sinh năm 1986, trú tại: khóm 10, phường 1, thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Chí T là đối tượng nghiện ma tuý. Do cần sử dụng ma túy, vào khoảng 11 giờ ngày 04/8/2022, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 64B1 – 612.96 từ nhà thuê ở khóm 10, phường 1, thành phố Bạc Liêu đến hẻm không số, khóm 6, phường 7, thành phố Bạc Liêu để mua ma túy về sử dụng, trên đường đi về đến đường Hương lộ 6, khóm 10, phường 1, thành phố Bạc Liêu thì bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,10466 gam Methamphetamine, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 132/CT-VKS-HS ngày 24/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, tịch thu lượng ma túy còn lại sau giám định, trả lại cho bị cáo 01 xe môtô màu đen đã qua sử dụng; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.
Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận đã mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, đã hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt; người bào chữa cho bị cáo đề nghị xem xét việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có trình độ văn hóa thấp, thuộc diện hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn và mới nghiện ma túy để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; chị Trần Thùy Dương đề nghị xem xét trả lại chiếc xe cho chị để sử dụng trong sinh hoạt gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Chí T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, thể hiện bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên đã đi mua ma túy về để sử dụng. Cụ thể là bị cáo đã đi mua ma túy tại hẻm không số thuộc khóm 6 phường 7, thành phố Bạc Liêu; sau khi mua ma túy xong, trên đường về nhà thì bị bắt quả tang.
[2] Số ma túy thu giữ được qua giám định tại Bản Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 11/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bạc Liêu xác định là Methamphetamine có khối lượng là 0,10466 gam. Xét thấy, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo hiểu rõ việc cất giữ chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện là lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Quá trình điều tra và truy tố, những người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đúng trình tự, thủ tục luật định. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ các thủ tục tố tụng.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, xem xét việc trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác do nghiện ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt cho bị cáo, xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mang tính phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Về vật chứng trong vụ án: Đối với 01 gói ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có tổng khối lượng là 0,07514 gam là vật cấm lưu hành được tịch thu tiêu hủy; đối với 01 (một) xe mô tô màu đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 64B1 – 612.96, số máy: HD1P53FMHY0021982, số khung: RMNWCHSMN9H0016578 là tài sản chung của bị cáo và chị Trần Thùy Dương, chị Dương không biết bị cáo dùng dùng làm phương tiện để đi mua ma túy nên trả xe này lại cho chị Dương.
[7] Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
[9] Ngoài ra, đối với người bán ma túy cho bị cáo do không xác định được nhân thân rõ ràng nên Cơ quan cảnh sát điều tra thành phố Bạc Liêu tiếp tục điều tra xử lý sau là phù hợp.
[10] Bị cáo khi bị bắt được xét nghiệm dương tính với 2 chất ma túy nên bị xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Chí T.
2. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù được tính kể từ ngày 04/8/2022.
3. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 46 và Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định có tổng khối lượng là 0,07514 gam.
- Trả lại cho chị Trần Thùy Dương 01 (một) xe mô tô màu đen, đã qua sử dụng, gắn biển kiểm soát 64B1 – 612.96, số máy: HD1P53FMHY0021982, số khung: RMNWCHSMN9H0016578.
(Vật chứng nêu trên hiện lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bạc Liêu theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/11/2022).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND Tp. Bạc Liêu; - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu; - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Bạc Liêu; - Bị cáo; - Lưu. | Trần Bích Ngọc |