vanban.org

Bản án 05/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang Tuyên án 24/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vầy Chẩn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vầy Chẩn Ng 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp chung của bản án số 26/2022/HS-ST Ngày 29/09/2022 xét xử Vầy Chẩn Ng về tội “Trộm cắp tài sản”, với hình phạt còn lại mà Ng phải chấp hành là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ = 19 ngày tù, bị cáo Ng phải chấp hình phạt chung c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Vầy Chẩn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản” - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vầy Chẩn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05 /2023/HSST
Ngày 24 - 02 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Ngọc Tuấn

Bà Trần Thị Hoài

- Thư ký phiên tòa: Ông Chúng Minh Duẩn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Thắng và bà Nguyễn Thị Nhật Tân- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện V, tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2023/TLST - HS, ngày 11 tháng 01 năm 2023.Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2023/QĐXXST - HS, ngày 10 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Vầy Chẩn Ng, sinh ngày 27 tháng 07 năm 1998, tại huyện Quản B, tỉnh H; nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Quản B, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12, Dân tộc: Bố Y; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vầy Sần Ph, sinh năm 1964 và bà Lù Thị L, sinh năm 1961; Vợ, con: Không. Anh, chị em: Có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

- Tiền án: 01 tiền án. Ngày 29/09/2022, Vầy Chẩn Ng đã bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 11 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 91 ngày tạm giam quy đổi bằng 273 ngày cải tạo không giam giữ) tại bản án số: 26/2022/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt còn lại mà Vầy Chẩn Ng phải chấp hành đối với bản án này là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ.

- Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/11/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

Người bị hại: Chị Lê Thị Th, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện V, tỉnh H. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1979. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 20/06/2021, Vầy Chẩn Ng, sinh năm 1998, nơi cư trú Thôn T, xã Q, huyện Quản B, tỉnh H đến nhà Lương Thị H, sinh năm 2007, nơi cư trú thôn B, xã H, huyện V, tỉnh H chơi. Nghĩa ngồi chơi tại nhà H đến khoảng 04 giờ ngày 21/06/2021 thì đi bộ ra về. Đến khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày, Ng đi bộ đến khu vực Thôn A, xã H, huyện V, tỉnh H thì nhìn thấy có 02 (Hai) chiếc xe mô tô đang dựng ở mái hiên phía trước 01 (Một) ngôi nhà, không có ai trông coi, quản lý, trong đó có 01 (Một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX, nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE RS; Màu sơn: Đen-Xám có chìa khóa cắm sẵn ở ổ khóa của xe, là tài sản của Lê Thị Th, sinh năm 1981, trú tại Thôn A, xã H, huyện V, tỉnh H. Lúc này Ng nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX để sử dụng nên đã đi bộ đến vị trí chiếc xe đang dựng, ngồi lên xe rồi dùng chân đẩy xe thả trôi đi ra đường liên xã H. Khi đẩy xe đi được một đoạn, cách nhà Th khoảng 70m (Bảy mươi mét) thì Ng dừng lại, dùng tay phải cầm vào chìa khóa đã cắm sẵn ở ổ khóa xe, mở khóa, đề nổ và điều khiển xe đi về hướng thành phố H. Sau đó, Nghĩa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX về nhà tại Thôn T, xã Q, huyện Quản B, tỉnh H. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, Ng tiếp tục điều khiển xe mô tô đã lấy trộm được đi xuống thành phố H và đến chơi điện tử tại quán “GAME” có địa chỉ tại số nhà 10C, đường Nguyễn Thái H, phường Minh Kh, thành phố H, tỉnh H. Trong quá trình chơi điện tử tại quán, Ng có nhìn thấy trên mạng xã hội Facebook có người (không nhớ là ai) đăng tải hình ảnh của Ng đang thực hiện hành vi lấy trộm chiếc xe mô tô trên. Do lo sợ bị phát hiện, nên đến khoảng 22 giờ cùng ngày, Nghĩa điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX đi từ quán “GAME” lên xã H, huyện V, tỉnh H với mục đích mang chiếc xe mô tô này quay về trả lại vị trí nơi Ng đã lấy trộm. Khi đi đến khu vực cầu treo trên đường Lý Thường K thuộc tổ 02, phường Ngọc H, thành phố H, tỉnh H thì xe mô tô bị hết xăng nên Ng đã dắt xe vào lề đường bên phải, đối diện nhà ông Đỗ Văn T, sinh năm 1979, nơi cư trú tổ 02, phường Ngọc H, thành phố H, tỉnh H và để xe tại đó (Chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa) rồi đi bộ qua cầu treo đến xã Thanh Th, huyện V, tỉnh H. Đến ngày 23/06/2022, sau nhiều ngày thấy xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX dựng ở lề đường, không xác định được chủ sở hữu nên ông T đã gọi điện trình báo Công an phường Ngọc H đến và tạm giữ xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX. Đối với Lê Thị Th, sau khi xác định xe mô tô biển kiểm soát 23H1-118.XX bị mất trộm đến ngày 31/10/2022 Th đến Công an xã H trình báo sự việc.

Ngày 01/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ban hành Yêu cầu định giá tài sản số 30/YC – ĐTTH, yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V định giá đối với: 01(một) chiếc xe môtô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE RS, màu sơn: Đen – Xám, số máy C52E- 13175xx, số khung 5289DY0666xx, biển số đăng ký 23H1 – 118xx đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 05/8/2014, bị trộm cắp trong vụ án.

Ngày 01/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V kết luận: Tại thời điểm tháng 6/2021 (thời điểm bị mất trộm) định giá 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu HONDA WAVE RS, màu sơn: Đen – Xám, số máy C52E- 13175xx, số khung 5289DY0666xx, biển kiểm soát 23H1 – 11860, xe đã qua sử dụng, đăng ký lần đầu ngày 05/8/2014 có giá trị là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng).

Cáo trạng số 03/CT-VKS - VX ngày 10/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Vầy Chẩn Ng về tội "Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung của bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V, tỉnh H vẫn giữ nguyên quan điểm về tội danh đã truy tố đối với bị cáo Ng. Đề nghị HĐXX: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vầy Chẩn Ng phạm tội : Trộm cắp tài sản.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vầy Chẩn Ng từ 09 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01/11/2022). Tổng hợp chung của bản án số 26/2022/HS-ST Ngày 29/09/2022 xét xử Vầy Chẩn Ng về tội “Trộm cắp tài sản”, với hình phạt còn lại mà Ng phải chấp hành là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ = 19 ngày tù, bị cáo Ng phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 09 tháng 19 ngày đến 12 tháng tù 19 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01/11/2022);

- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Lê Thị Th có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe cho bị hại và bị hại xác nhận chi phí sửa chữa xe máy không nhiều nên không yêu cầu bồi thường nữa, do đó đề nghị HĐXX không xem xét

Vật chứng vụ án : Đã giải quyết trong quá trình điều tra nên không đề cập xem xét

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Người bị hại Lê Thị Th có ý kiến: chi phí sửa chữa xe máy không nhiều nên không yêu cầu bồi thường nữa, bị hại có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe cho bị hại và không có ý kiến gì về mức hình phạt đối với bị cáo.

Bị cáo Ng không bổ sung ý kiến gì thêm và nhất trí với bản cáo trạng, luận tội và không tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyệnV, tỉnh H.

Bị cáo nói lời sau cùng: Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, xin HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện V trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

Tại phiên tòa vắng mặt người làm chứng đến vụ án, nhưng trước đó đã có lời khai tại giai đoạn điều tra và đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo Vầy Chẩn Ng tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu như: Tài liệu Biên bản xác định hiện trường, bản ảnh hiện trường, tài liệu vật chứng, các biên bản định giá tài sản, các Bản kết luận định giá tài sản, lời khai bị hại, người làm chứng đến vụ án, cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 21/6/2021, tại Thôn A, xã H, huyện V, tỉnh H, Vầy Chẩn Ng đã một mình thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô BKS 23H1 – 118.xx (nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE RS; Màu sơn: Đen – Xám; Số máy: C52E-13175xx; Số khung: 5289DY0666xx; Xe cũ đã qua sử dụng) có giá trị là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) của Chị Lê Thị Th. Hành vi của bị cáo Vầy Chẩn Ng đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Như vậy,Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo Vầy Chẩn Ng theo bản Cáo trạng số 03/CT-VKS – VX ngày 10/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ, đồng thời làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây lo lắng cho quần chúng nhân dân trong việc quản lý tài sản. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo Ng vẫn cố ý thực hiện, lợi dụng sự sơ hở của gia đình bị hại để lén lút trộm cắp tài sản nhằm mục đích phục vụ cá nhân.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo trong vụ án. Hội đồng xét xử thấy rằng, hành vị của bị cáo trong vụ án là độc lập, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có một tiền án: Ngày 29/09/2022, Vầy Chẩn Ng đã bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 11 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 91 ngày tạm giam quy đổi bằng 273 ngày cải tạo không giam giữ) tại bản án số: 26/2022/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt còn lại mà Ng phải chấp hành đối với bản án này là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo không lấy đó làm bài học, không tự rèn luyện bản thân, sau khi trộm cắp được tài sản của bị hại, bị cáo chưa thực sự ăn năn hối cải. Vì vậy, phải xử lý các bị cáo bằng chế tài luật hình sự, như vậy mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô BKS 23H1 – 118.60 của bị hại Lê Thị Th trước khi thực hiện hành vi trộm cắp và bị tòa án nhân dân thành phố H xét xử, do vậy bị cáo Ng không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần có một mức án phù hợp với bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo Vẩy Chẩn Ng đã bị Tòa án nhân dân thành phố H tuyên phạt 11 tháng cải tạo không giam giữ (được trừ 91 ngày tạm giam quy đổi bằng 273 ngày cải tạo không giam giữ) tại bản án số: 26/2022/HS-ST Ngày 29/09/2022 về tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt còn lại mà Ng phải chấp hành đối với bản án này là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ. Căn cứ Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự, HĐXX quyết định hình phạt đối với tội đang xét xử và quyết định hình phạt chung hình phạt của bản án đã tuyên (ngày 29/09/2022) và hình phạt của bản án xét xử ngày 24/2/2023 để buộc bị cáo Ng phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị hại Lê Thị Th có đơn đề nghị không yêu cầu bị cáo phải bồi thường chi phí sửa chữa xe cho bị hại và bị hại xác nhận chi phí sửa chữa xe máy không nhiều nên không yêu cầu bồi thường, do đó HĐXX không xem xét

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) xe mô tô biển kiểm soát 23H1 – 118.xx; Nhãn hiệu: HONDA; Số loại: WAVE RS; Màu sơn: Đen – Xám; Số máy: C52E-13175xx; Số khung: 5289DY0666xx, xe đã qua sử dụng và 01 (Một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 012381 do Công an huyện V cấp ngày 06/08/2014. Quá trình điều tra xác định là tài sản của gia đình Chị Lê Thị Th nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã trả lại cho chủ sở hữu. Xét thấy việc trả lại tài sản là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy HĐXX không đề cập xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật

Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật và đồng thuận với quan điểm của HĐXX.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, Điều 51, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vầy Chẩn Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vầy Chẩn Ng 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp chung của bản án số 26/2022/HS-ST Ngày 29/09/2022 xét xử Vầy Chẩn Ng về tội “Trộm cắp tài sản”, với hình phạt còn lại mà Ng phải chấp hành là 01 tháng 27 ngày cải tạo không giam giữ = 19 ngày tù, bị cáo Ng phải chấp hình phạt chung của hai bản án là 09 (chín) tháng 19 (mười chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (ngày 01/11/2022).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vầy Chẩn Ng phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiệntheo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ