vanban.org

Bản án 05/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Công T 08 (Tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Công T cho UBND xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công T phạm tội Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NINH GIANG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HSST
Ngày: 23/02/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quý Long

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Loan- Thư ký Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hà- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa công khai, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2023/QĐXXST- HS, ngày 17 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Công T, sinh năm 1980 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Công S (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1947; Có vợ là Đào Thị Th và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2022 đến 24/12/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đào Thị Th, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người chứng kiến: Ông Trần Hoà B; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu mua pháo hoa nổ, pháo nổ để đốt nên Trần Công T nảy sinh ý định mua pháo nổ về cất giấu, mục đích để đốt chơi Tết. Ngày 07/12/2022, T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, màu đen, lắp sim số 0984561628 của T truy cập vào ứng dụng Facebook rồi vào trang “Pháo tết 2023” tìm kiếm thông tin thì tìm được một người có Nick Facebook là “Tom Và Jerry” (không biết tên tuổi, địa chỉ) đăng tin bán pháo nổ, T đã kết bạn Facebook với người này rồi nhắn tin trao đổi qua ứng dụng Messenger, mạng xã hội Facebook về nội dung mua bán pháo nổ. T có hỏi người này pháo loại hộp vuông (pháo giàn) và pháo bánh bán giá bao nhiêu thì được người này cho biết pháo giàn loại 49 quả giá 1.300.000 đồng/1 hộp, pháo bánh giá 200.000 đồng/1 mét. Thấy giá bán hợp lý, T đã đặt mua 04 hộp pháo giàn và 02 bánh pháo nổ với tổng số tiền là 5.600.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ ngày 17/12/2022, người có nick Facebook “Tom và Jerry” gọi cho T thông qua ứng dụng Messenger hẹn nhau về thời gian, địa điểm để nhận pháo. Khoảng 11 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, biển kiểm soát 15A-410.21 (đăng ký xe mang tên T) đi từ nhà đến khu vực nghĩa trang thuộc khu 1, thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang thì gặp một người đàn ông giao hàng dịch vụ (không rõ tên tuổi, địa chỉ) có hỏi T: “có phải đặt mua pháo không?”, T bảo “vâng” thì được người này chỉ cho vị trí để pháo ở trong nghĩa trang gần đó. T đi ra gần một ngôi mộ trong nghĩa trang đó thấy 01 thùng carton có dán băng dính màu vàng, mở ra kiểm tra thấy bên trong có 04 hộp pháo giàn loại 49 quả và 02 bánh pháo nổ loại 01 mét/bánh như số lượng, chủng loại T đã đặt mua. T giao cho người đàn ông số tiền 2.000.000 đồng, còn lại số tiền 3.600.000 đồng, T và người đàn ông thỏa thuận người đàn ông sẽ gửi số tài khoản ngân hàng cho T để T chuyển khoản trả tiền, người đàn ông này sau đó đi đâu không rõ. Khi T mang thùng carton đựng pháo để ở ghế sau xe ô tô thì bị Cơ quan CSĐT- Công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 147/KL-KTHS ngày 19/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: 04 vật hình hộp vuông có bọc giấy mầu xanh in hình hoa văn, có chữ nước ngoài, bên trong có 49 vật hình trụ là pháo hoa nổ, tổng khối lượng 6,037 Kg (Sáu phẩy không trăm ba mươi bẩy Ki lô gam); 01 vật hình trụ tròn đường kính 14cm, cao 9cm, bên ngoài bọc nilon màu trắng, bên trong chứa các vật hình trụ tròn được cuộn bằng giấy màu đỏ, hai đầu bịt kín, một đầu có gắn dây dẫn màu trắng, sau đó dây dẫn kết nối các vật này thành 01 tràng. 01 vật hình trụ tròn, đường kính 13cm, cao 9,5cm, bên ngoài bọc giấy báo, quấn băng dính, bên trong chứa các vật hình trụ tròn được cuộn bằng giấy đỏ, đầu được bịt kín, một đầu dây dẫn màu trắng, sau đó các dây dẫn kết nối với nhau thành 01 tràng. Tất cả đều là pháo nổ. Tổng khối lượng pháo nổ là 1,458kg. Khối lượng pháo nổ, pháo hoa nổ gửi giám định là 7,495kg. Hoàn lại đối tượng giám định: Trả lại mẫu vật gửi giám định sau khi trích 90g từ các quả pháo.

Ngày 23/12/2022 Cơ quan CSĐT- Công an huyện Ninh Giang đã tiêu hủy 7,405 kg pháo hoa nổ, pháo nổ hoàn lại sau giám định.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 11/QĐ- VKS- NG ngày 13/12/2023, Viện kiểm sát nhân dân (viết tắt là VKSND) huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương truy tố Trần Công T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự (viết tắt là BLHS).

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần Công T phạm tội "Tàng trữ hàng cấm". Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 BLHS; Xử phạt bị cáo T từ 07 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14 tháng đến 18 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo T cho UBND xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Hình phạt bổ sung: Không. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS; Tịch thu phát mại nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, màu đen, đã qua sử dụng, tịch thu tiêu huỷ sim số 09845616628; Trả lại bị cáo Trần Công T và chị Đào Thị Thuyên (vợ bị cáo T) 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA, loại Morning, màu xám, BKS: 15A-410.21, đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 108209 của xe ô tô BKS: 15A- 410.21; Về án phí: Áp dụng: Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000đồng án phí hình sư sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Hải Dương; Cơ quan điều tra Công an huyện Ninh Giang, Điều tra viên, VKSND tỉnh Hải Dương; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Lời khai của bị cáo Trần Công T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ, ngày 17/12/2022 tại khu vực nghĩa trang thuộc khu 1, thị trấn Ninh Giang, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương, Trần Công T có hành vi cất giấu 7,495 kg pháo hoa nổ, pháo nổ để sau xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, biển kiểm soát 15A- 410.21 mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT- công an tỉnh Hải Dương phát hiện bắt quả tang thu giữ tổng khối lượng pháo hoa nổ, pháo nổ 7,495 kg. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ pháo hoa nổ, pháo nổ là mặt hàng Nhà nước cấm kinh doanh, sử dụng nhưng để thoả mãn nhu cầu bản thân nhân dịp tết Nguyên Đán, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Khối lượng pháo hoa nổ, pháo nổ bị cáo cất giữ là 7,495 kg đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ hàng cấm quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Giang truy tố bị cáo Trần Công T về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm kinh doanh, làm mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Ninh Giang trong những ngày giáp tết việc xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung có hiệu quả.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có bố đẻ là ông Trần Công S và mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị D đều được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. HĐXX sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

. Căn cứ quy định của pháp luật, sau khi xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo có đủ điều kiện được áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, cũng như đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật đồng thời thể hiện giá trị nhân đạo, chính sách khoan hồng của pháp luật.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc diện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, màu đen, đã qua sử dụng, bên trong lắp sim 0984561628 bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước chiếc điện thoại nêu trên, tịch thu tiêu huỷ sim số 0984561628. Đối với 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, màu xám, Biển kiểm soát 15A- 410.21, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 108209 của xe ô tô BKS: 15A- 410.21 mang tên Trần Công T là xe ô tô bị cáo T và vợ là chị Đào Thị Thuyên mua năm 2000 (mua trong thời kỳ hôn nhân) nên xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo T và chị Thuyên. Bị cáo dùng xe ô tô trên để chỉ là phương tiện đi lại hàng ngày. Do vậy, cần trả lại cho bị cáo T và chị Đào Thị Thuyên chiếc xe ô tô trên là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS.

Đối với 7,405 kg pháo hoa nổ, pháo nổ hoàn lại sau giám định được xử lý bằng tiêu huỷ trong giai đoạn điều tra là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo định của pháp luật.

. Các vấn đề khác: Đối với người liên lạc, trao đổi việc mua bán pháo qua mạng xã hội Facebook có tên “Tom và Jerry” và người đàn ông vận chuyển pháo giao cho bị cáo T, quá trình điều tra xác minh không xác định được là ai, họ tên, địa chỉ cụ thể ở đâu nên không có căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Trần Công T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trần Công T 08 (Tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Công T cho UBND xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp với UBND xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 BLHS.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu phát mại nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc diện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y16, màu đen, đã qua sử dụng, tịch thu tiêu huỷ sim số 0984561628. Trả lại bị cáo Trần Công T và chị Đào Thị Th, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện V, thành phố Hải Phòng 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Kia morning, màu xám, Biển kiểm soát 15A- 410.21, xe đã qua sử dụng và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 108209 của xe ô tô BKS: 15A- 410.21. (theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/02/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện Ninh Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Công T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333- BLTTHS.

Bị cáo Trần Công T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/02/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần liên quan đến mình kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/02/2023).

Cỡ chữ