- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Ngọc H phạm tội tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUỴÊN EA KAR TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HSST. Ngày: 14 – 3 – 2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc.
Các hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Thế Hằng.
+ Ông Nguyễn Xuân Trường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Bà Giản Thị Chung – Kiểm sát viên.
Ngày 14/03/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huỵên Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/HSST ngày 17 tháng 02 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/HSST – QĐ ngày 02 tháng 03 năm 2023, đối với bị cáo:
Bùi Ngọc H (tên gọi khác: Không), sinh năm: 1991, tại: huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi cư trú: Thôn 2, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Bùi Ngọc T, sinh năm 1964 và con bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1966; Hiện bố mẹ của bị cáo cư trú tại: Thôn 2, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Bị cáo chưa bị kết án và chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Hàng Khánh Th, sinh năm: 1991. (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Ngọc H,sinh năm 1991, trú tại thôn 2, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 24/12/2022, H đến quán Internet ở thị trấn K, huyện E chơi điện tử, trong lúc chơi H đăng nhập vào tài khoản Facebook cá nhân của mình có tên “Ngọc H”, thấy có nick Facebook (không nhớ tên Facebook) đăng tin bán pháo của Bộ Quốc Phòng nên H vào bình luận “giá pháo bao nhiêu” thì Facebook người này nhắn lại cho H “ib” (tức là nhắn tin riêng). Sau đó Facebook người này nhắn tin Messenger trao đổi, nói chuyện với H. Qua nói chuyện, H biết người này không phải bán Pháo Bộ quốc phòng mà bán pháo nổ nên H đã nảy sinh ý định mua pháo nổ để Tết nguyên đán đốt. Sau đó, H đã đặt mua 04 hộp pháo hoa nổ với giá 500.000đ/hộp và 01 bịch pháo bi 100 viên với giá là 300.000đ/bịch, tổng số tiền là 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm ngàn đồng). Đồng thời hẹn một tuần sau sẽ giao hàng và trả tiền trực tiếp tại ngã ba Km 61 trước cây xăng Cường An. Đến khoảng 09 giờ 00 ngày 01/01/2023, H sử dụng xe mô tô biển số 47L1-151.40 (xe H mượn của em rể là Hàng Khánh Th) đi từ nhà ra địa điểm đã hẹn từ trước để chờ nhận hàng. Một lúc sau, có 01 xe tải màu xanh do 01 người đàn ông điều khiển (H không rõ biển số xe cũng như nhân thân người này) giao hàng. Sau khi kiểm tra đúng số lượng pháo đặt mua, H đưa số tiền 2.300.000 đồng (hai triệu ba trăm ngàn đồng) cho người đàn ông. Trả tiền xong, H nhận pháo rồi bỏ trên gacbaga của xe điều khiển về nhà. Khi đi đến đoạn đường thôn 3, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk bị tổ công tác của Công an huyện Ea Kar phối hợp Công an xã E phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ pháo vừa mua được.
Vật chứng thu giữ:
- 04 khối hình vuông kích thước 18x18x10cm màu xanh, bên ngoài có chữ nước ngoài, trọng lượng 06kg.
- 01 túi nilong màu trắng bên trong chứa 100 bi nhựa hình tròn, trọng lượng 0,5kg.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L1-151.40 nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen.
Tại bản kết luận giám định số 29/2023/KL-KTHS ngày 06/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận: 04 khối hình hộp là giàn pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), trọng lượng là 5,957kg; 100 viên bi nhựa trong túi nilong là pháo nổ, trọng lượng là 0,481kg. Tổng trọng lượng là 6,438kg.
Bản cáo trạng số 08/CT - VKS, ngày 15 tháng 02 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar truy tố bị cáo Bùi Ngọc H về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo điểm c Khoản 1, Điều 191 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.
Phần tranh luận đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện E giữ quyền công tố Nhà nước, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong công tác xét xử tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 191; điểm I, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Bùi Ngọc H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 03 giàn pháo và 95 viên pháo bi là số pháo nổ còn lại sau giám định. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar)
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E ra quyết định xử lý vật chứng số 02, trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L1-151.40 nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen cho anh Hàng Khánh Th là chủ sở hữu hợp pháp.
Bị cáo Bùi Ngọc H không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát, tại phần lời nói sau cùng mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều đúng theo quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ pháp lý khẳng định:
Vào khoảng 9 giờ 00 phút, ngày 01/01/2023, Bùi Ngọc H đã có hành vi mua 04 hộp pháo hoa và 100 viên pháo bi với tổng số tiền là 2.300.000 đồng của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, trên đường vận chuyển số pháo trên về nhà để sử dụng vào dịp tết Nguyên đán năm 2023 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt quả tang. Tổng số pháo thu giữ được qua giám định xác định có khối lượng là 6,438kg. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự.
Điều 191 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường họp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
c, Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;
…”.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đủ năng lực nhận thức. Bản thân bị cáo nhận thức được rằng pháo nổ là vật nổ nguy hiểm do đó được nhà nước độc quyền quản lý, mọi hành vi, tàng trữ pháo nổ đều xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước thì bị pháp luật xử lý nghiêm minh. Mặc dù nhận thức được như vậy, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, vì mục đích mua pháo về để đốt vào dịp tết nguyên đán vào nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ. Do đó, HĐXX đưa ra mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nhận thức được hành vi sai trái của mình, từ đó hoàn thiện lối sống để trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự trong quá trình lượng hình cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Xét mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành tốt mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước và nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Do đó, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a Khoản 2; điểm a Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy: 03 giàn pháo và 95 viên pháo bi là số pháo nổ còn lại sau giám định. (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar)
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar ra quyết định xử lý vật chứng số 02, trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L1-151.40 nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen cho anh Hàng Khánh Th là chủ sở hữu hợp pháp.
Về án phí: Áp dụng Khoản 1, Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Bùi Ngọc H phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
Căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 191; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ Luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Ngọc H 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Bùi Ngọc H về cho UBND xã Ea Sar, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình của bị cáo có trách nhiệm, phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể Quyết định buộc người được cho hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
* Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46; Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a Khoản 2; điểm a Khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015:
- Tịch thu, tiêu hủy: 03 giàn pháo và 95 viên pháo bi là số pháo nổ còn lại sau giám định. (có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar)
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar ra quyết định xử lý vật chứng số 02, trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 47L1-151.40 nhãn hiệu Yamaha Sirus màu đỏ đen cho anh Hàng Khánh Th là chủ sở hữu hợp pháp.
* Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Bùi Ngọc H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện EaKar; - Chi cục THADS huyện EaKar; - Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Ngọc |