- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Quyết Thắng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 24 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Anh Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Nghĩa và Ông Võ Xuân Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Trọng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo:
Đặng Quyết Th, sinh ngày 02/10/1997 tại thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đặng Văn T (chết) và bà Trương Thị L, sinh năm 1973; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 14/11/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Ông Trương Tr, sinh năm 1934; nơi cư trú: thôn V, xã Q, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu phố 1, phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 9 năm 2022, Đặng Quyết Th đi bộ từ nhà ở của mình đến nhà ông Trương Tr và bà Đoàn Thị Kh (là ông bà ngoại của Th) trú cùng thôn để chơi. Đến nhà, Th thấy ông Tr đang nằm ngủ trên giường nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Th quan sát xung quanh và đi vào phòng ngủ phía trong thấy 01 thùng gạo đặt sát tường nhà, đến lục tìm trong thùng gạo Th phát hiện một túi ni lon màu trắng, bên trong có 01 (một) nhẫn vàng ta, trọng lượng 06 (sáu) phân và số tiền là 1.500.000 đồng (trong đó có 05 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 500.000 đồng). Th lấy trộm toàn bộ số tài sản trên rồi đem chiếc nhẫn vàng đến bán tại tiệm vàng H, ở Khu phố 1 phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình do bà Nguyễn Thị H làm chủ với giá 2.900.000 đồng, toàn bộ số tiền Th đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Ba Đồn, xác định 01 chiếc nhẫn vàng ta, hình tròn, nhẫn trơn, trọng lượng 06 phân của ông Trương Tr tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 3.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà bị cáo Th chiếm đoạt là 4.500.000 đồng.
Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, quá trình điều tra Đặng Quyết Th còn khai nhận đã thực hiện thêm 02 vụ trộm cắp tài sản tại nhà ông Trương Tr, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Vào ngày 31 tháng 8 năm 2022, Th đã lấy trộm của ông Trương Tr 01 nhẫn vàng tây, trọng lượng 02 phân và 300.000 đồng. Sau đó, Th đem chiếc nhẫn vàng đến bán tại tiệm vàng H, ở Khu phố 1 phường B, thị xã B, tỉnh Quảng Bình do bà Nguyễn Thị H làm chủ với giá 400.000 đồng. Tại bản kết luận định giá tài sản số 31 ngày 26 tháng 10 năm 2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Ba Đồn, xác định thiệt hại tài sản của ông Trương Tr gồm 01 chiếc nhẫn vàng tây, hình tròn, nhẫn trơn, trọng lượng 02 phân tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 440.000 đồng. Tổng trị giá mà bị cáo Th chiếm đoạt là 740.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào ngày 02 tháng 9 năm 2022, Th đã lấy trộm của ông Trương Tr số tiền 1.400.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã giữ từ bà Nguyễn Thị H số tiền 150.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc bán được vàng. Đối với 01 chiếc nhẫn vàng ta, hình tròn, nhẫn trơn, trọng lượng 06 phân là vật chứng của vụ án, hiện chưa truy tìm được tài sản trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã ra thông báo truy tìm vật chứng số 118 ngày 16/11/2022.
Về dân sự: Quá trình điều tra, bị hại ông Trương Tr yêu cầu bị cáo Đặng Quyết Th bồi thường số tiền 6.500.000 đồng, Th đã bồi thường đầy đủ số tiền trên và hai bên cam đoan không khiếu nại gì về vấn đề dân sự.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKSBĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Đặng Quyết Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn: giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Quyết Th theo toàn bộ nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tuyên bị cáo Đặng Quyết Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
+ Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.
+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo
+ Về xử lý vật chứng: số tiền 150.000 đồng tạm giữ từ bà Nguyễn Thị H là tiền thu lợi bất chính nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung ngân sách nhà nước. Đối với 01 chiếc nhẫn vàng ta, hình tròn, nhẫn trơn, trọng lượng 06 phân là vật chứng của vụ án, hiện chưa tìm được tài sản trên nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã Ba Đồn đã ra thông báo truy tìm vật chứng số 118 ngày 16/11/2022, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.
+ Về trách nhiệm dân sự: bị hại và bị cáo thỏa thuận mức bồi thường và bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho bị hại, do vậy không xem xét.
+ Tuyên bị cáo phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Đặng Quyết Th nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhất trí với toàn bộ nội dung Cáo trạng và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại Cơ quan điều tra, tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, cải tạo, giáo dục tại địa phương.
- Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, không có yêu cầu về dân sự, xét việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng khách quan đến kết quả giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: tại phiên tòa, bị cáo khai nhận, lời khai của bị cáo phù hợp về thời gian, không gian, địa điểm và hiện trường nơi xảy ra vụ án, vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn đã truy tố, quan điểm luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, có cơ sở xác định: khoảng 13 giờ 30 phút ngày 10 tháng 9 năm 2022, tại thôn V, xã Q, thị xã B, lợi dụng sơ hở của ông Trương Tr và bà Đoàn Thị Kh trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) nhẫn vàng ta, trọng lượng 06 (sáu) phân và số tiền là 1.500.000 đồng. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã Ba Đồn xác định 01 chiếc nhẫn vàng ta, hình tròn, nhẫn trơn, trọng lượng 06 phân tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá là 3.000.000 đồng. Tổng trị giá thiệt hại tài sản mà Đặng Quyết Th đã gây ra trong vụ trộm cắp tài sản vào ngày 10 tháng 9 năm 2022 là 4.500.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử kết luận hành vi của bị cáo Đặng Quyết Th đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 06/CT-VKSBĐ ngày 16/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ba Đồn truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là ít nghiêm trọng nhưng hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã nhiều lần xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự; gây hoang mang, lo lắng cho người dân tại địa phương. Do vậy, cần xét xử bị cáo với mức hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
- Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt.
Về hình phạt và hình phạt bổ sung:
Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thấy: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương; xét thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe. Tuy nhiên, bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản, trong số đó mặc dù chỉ một lần trộm cắp tài sản đủ tang số truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng thể hiện sự coi thường pháp luật, tài sản người khác của bị cáo. Việc Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị áp dụng hình phạt Cải tạo không giam giữ đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất và mức độ hành vi của bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử bị cáo bằng hình phạt tù cho hưởng án treo, chịu một thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương, tạo điều kiện cho bị cáo cơ hội sửa chữa, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời đảm bảo mục đích, tác dụng của hình phạt.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành án. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Xác định số tiền 150.000 đồng tạm giữ từ bà Nguyễn Thị H là tiền thu lợi bất chính nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu sung ngân sách nhà nước .
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về hành vi liên quan khác:
Đối với hành vi Đặng Quyết Th thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tại nhà ông Trương Tr vào ngày 31 tháng 8 năm 2022 và ngày 02 tháng 9 năm 2022. Do hành vi trộm cắp tài sản thực hiện không liên tục về mặt thời gian, trị giá tài sản mỗi lần trộm cắp đều dưới 2.000.000 đồng, nên không đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản, theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn đã chuyển toàn bộ hồ sơ cho Công an thị xã Ba Đồn xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật là đúng quy định.
Trong vụ án này có Nguyễn Thị H là người đã mua lại nhẫn vàng do Th chiếm đoạt. H không bàn bạc thỏa thuận gì trước với bị cáo và không biết tài sản đó do phạm tội mà có, vì vậy hành vi của H không đủ yếu tố cấu thành Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn nhắc nhở, răn đe để giáo dục là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Điểm b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về “Mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án”.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Quyết Th phạm tội "Trộm cắp tài sản".
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Quyết Th 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 (mười bốn) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/02/2023).
Giao bị cáo Đặng Quyết Th cho Ủy ban nhân dân xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
4. Vật chứng vụ án: tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 thu giữ từ bà Nguyễn Thị H (vật chứng có đặc điểm mô tả như trong Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/01/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Ba Đồn và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ba Đồn).
5. Án phí: Buộc bị cáo Đặng Quyết Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/02/2023); bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - VKSND thị xã Ba Đồn; - Công an thị xã Ba Đồn; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Chi cục THADS thị xã Ba Đồn; - UBND xã Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn; - Bị cáo, bị hại, NCQLNVLQ; - Lưu hồ sơ vụ án; - THA hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Anh Đức |