- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 12-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Th phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đặng Phú Lâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Dũng
Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Huy Hoàn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 174/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Th, sinh ngày 25 tháng 06 năm 1984; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn N, xã A, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L; vợ Lê Thị Nh (đã ly thân) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Bản án số 73/HSST ngày 02/12/2003 của Tòa án nhân dân huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai xử phạt Th 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trị giá tài sản trộm cắp là 5.000.000đ. Ngày 08/03/2004, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Ngày 22/9/2009, được miễn thi hành đối với khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Quyết định số 12/2009/QĐMTHA ngày 22/9/2009 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
+ Tại Bản án số 73/HSST ngày 17/3/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Th 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Lừa đảo chiểm đoạt tài sản”, buộc Th phải bồi thường dân sự cho các bị hại với tổng số tiền là 19.120.000đ, ngoài ra Th phải nộp 50.000đ án phí hình sự sơ thẩm và được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Ngày 30/9/2009, đã chấp hành xong án phí. Ngày 25/5/2013, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương. Đối với phần bồi thường dân sự, qua xác minh xác định, kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, các bị hại đều không có đơn yêu cầu và đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành án.
+ Tại Bản án số 05/2018/HSST ngày 24/01/2018 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Th 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trị giá tài sản trộm cắp là 6.825.000đ. Ngày 08/6/2018, đã chấp hành xong án phí. Ngày 08/10/2018, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
+ Tại Bản án số 116/2019/HSST ngày 11/6/2019 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Th phố Hà Nội xử phạt Th 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trị giá tài sản trộm cắp là 700.000đ. Ngày 25/6/2020, đã chấp hành xong án phí. Ngày 29/3/2020, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Th phố Vĩnh Yên “có mặt”.
- Bị hại: Chị Dương Thị Thanh G – sinh năm 2001; trú tại: Thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
- Người làm chứng:
+ Anh Lê Huỳnh Đ, sinh năm 2000; trú tại: Khu 8, xã Bồ L, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
+ Chị Lê Thị Lan A, sinh năm 1998; trú tại: Thôn 8, xã K, Th phố T, tỉnh Tuyên Quang “vắng mặt”.
+ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1963; trú tại: Thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn Th nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Khoảng 02 giờ ngày 15/10/2022, Th thuê xe taxi (không rõ BKS và nhân thân, lai lịch người lái xe taxi) đi từ khu vực ngã tư giao nhau giữa đường Tôn Đ Thắng với đường Nguyễn Tất Th thuộc phường Khai Quang, Th phố Vĩnh Yên đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc thuộc Tổ dân phố Lạc Ý 1, phường Đồng Tâm, Th phố Vĩnh Yên mục đích xem ai có tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đến nơi, Th một mình đi vào trong Bệnh viện rồi lên tầng 3 đến Khoa chấn thương chỉnh hình thì thấy khu vực ngoài hành lang có nhiều bệnh nhân và người nhà bệnh nhân đang nằm ngủ trên giường, trong đó có chị Dương Thị Thanh G đang nằm ngủ trên giường giáp với cửa buồng cấp cứu, phía cuối giường chị G để 01 ba lô vải màu đen, mặt trước ba lô có chữ TOGARBOLA, bên trong có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu ghi bạc, Model: A512F, đã cũ và số tiền 11.000.000đ. Lúc này, quan sát thấy chị G đang ngủ say, Th lén lút đi đến phía cuối giường chị G dùng tay phải lấy trộm chiếc ba lô trên của chị G. Sau khi trộm cắp được tài sản, Th cầm chiếc ba lô đi dọc theo hành lang để bỏ trốn. Tuy nhiên, vừa đi được một đoạn thì Th bị Công an phường Đồng Tâm, Th phố Vĩnh Yên phối hợp với quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tại Kết luận định giá tài sản số 141/KL-HĐĐG ngày 19/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Th phố Vĩnh Yên, kết luận: “01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu ghi bạc, Model: A512F có trị giá 4.000.000đ; 01 ba lô vải màu đen, mặt trước ba lô có chữ TOGARBOLA có trị giá 50.000đ. Tổng trị giá 4.050.000đ (Bốn triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản Th trộm cắp của chị G là 15.050.000đ (Mười lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSNDTPVY-VP ngày 29/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Vĩnh Yên truy tố Nguyễn Văn Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị hại chị Dương Thị Thanh G đã khai nhận phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo; giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt Nguyễn Văn Th từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Th đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Th phố Vĩnh Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 15/10/2022, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc thuộc Tổ dân phố Lạc Ý 1, phường Đồng Tâm, Th phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn Th đã có hành vi trộm cắp của chị Dương Thị Thanh G 01 ba lô vải màu đen, bên trong có 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu ghi bạc, model: A512F, đã cũ, đã qua sử dụng, có tổng trị giá theo kết luận định giá là 4.050.000đ và số tiền 11.000.000đ thì bị Công an phường Đồng Tâm, Th phố Vĩnh Yên phối hợp với quần chúng nhân dân phát hiện bắt quả tang và thu giữ toàn bộ tang vật. Tổng giá trị tài sản Th trộm cắp là 15.050.000đ (Mười lăm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn Th đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Xét tính chất vụ án tuy ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, do vậy cần xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Th khẩn khai báo. Tuy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào, nhưng bị cáo là người có nhân thân rất xấu, đã nhiều lần bị kết án và cải tạo, giáo dục trong Trại giam: Ngày 02/12/2003 bị Tòa án nhân dân huyện Long Th, tỉnh Đồng Nai xử phạt Th 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 17/3/2005 bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt Th 10 năm tù về tội “Cướp tài sản” và “Lừa đảo chiểm đoạt tài sản”; ngày 24/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 11/6/2019 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Th phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng trở Th người lương thiện, mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù với mức án như đề nghị của Viện kiểm sát mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.
Về vật chứng: Đối với 01 ba lô vải màu đen; 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Asus màu ghi bạc, Model: A512F, đều đã cũ, đã qua sử dụng và số tiền 11.000.000đ, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Dương Thị Thanh G. Ngày 04/12/2022, Cơ quan CSĐT Công an Th phố Vĩnh Yên có Quyết định xử lý vật chứng trả các tài sản trên cho chủ sở hữu, chị G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu hay đề nghị Th phải bồi thường gì khác.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt Nguyễn Văn Th 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15 tháng 10 năm 2022).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND Thành phố Vĩnh Yên; - Bộ phận Hồ sơ - CA Thành phố Vĩnh Yên; - Chi cục THADS Thành phố Vĩnh Yên; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Phú Lâm |