- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bị cáo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 11/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Phú Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Kiên Hiển
2. Bà Nguyễn Thị Xuyến
- Thư ký phiên toà: Phan Thị Dung – Thư ký Toà án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên toà: Bà Ngô Thị Thu Hường – Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 01 năm 2023 tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 3, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 115/2022/QĐXXST-HS ngày 26/12/2022 đối với bị cáo:
Bị cáo C, sinh năm 1951, tại tỉnh T; trú tại: Ấp A 3, xã Y, huyện Đ, tỉnh T; chỗ ở: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 5/12; dân tộc: Khơ me; tôn giáo: Không; con ông S và bà G; con: An Thọ, 1982; Nhân thân: Ngày 09/02/2007, bị PC02 Công an TP. Hồ Chí Minh bắt đưa vào CSGD với thời gian 24 tháng. Ngày 01/04/2007, bị CAQ1 bắt về tội “Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 09 tháng tù treo, 18 tháng thử thách. Ngày 24/9/2013, bị Công an phường Trảng Dài, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị bắt tạm giam từ ngày 20/7/2022. (có mặt)
Bị hại: Bà H, sinh năm 1945; trú tại: thôn T, xã B, thị xã C, tỉnh Y. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ ngày 20/07/2022, Bị cáo C đi đến Bệnh viện Mắt tại số 280 đường, phường S, Quận 3 để khám mắt. Khi đứng ở cổng số 02 đường Nguyễn Thông, C thấy rất đông người xếp hàng chờ khám bệnh nên nảy sinh ý định móc túi trộm cắp tài sản của người dân. C dùng 5.000 đồng để mua 01 dao lam của người bán hàng rong (không rõ lai lịch) trước cổng Bệnh viện Mắt đường Nguyễn Thông rồi cất giấu vào trong người. Khi vào bên trong khu vực chờ khám bệnh, C phát hiện túi áo dưới bên phải của bà H dày cộm, nghĩ bà Hoa có tiền nên C đã lén lút dùng dao lam để rạch túi áo của bà H lấy trộm số tiền 7.130.000 đồng thì bị bà Hoa phát hiện, dùng tay trái túm vai C lại và kêu to “Móc túi, móc túi”. C liền buông tay bỏ tiền rơi xuống đất, thấy vậy anh H1 là con trai bà Hoa đang đứng gần đó và người chứng kiến sự việc là anh L, cùng bảo vệ bệnh viện là anh S đã hỗ trợ, giữ C lại, sau đó báo Công an phường Võ Thị Sáu, Quận 3 đưa người cùng tang vật về Công an phường lập biên bản phạm tội quả tang.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 3, Bị cáo C thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như nêu trên.
Vật chứng của vụ án:
- Số tiền 7.130.000 đồng đã được trả lại cho bị hại H;
- 01 đĩa CD hiệu Maxell MQ màu vàng có đoạn video trích xuất từ camera giám sát tại tầng trệt Bệnh viện Mắt tại số số 280 đường, phường S, Quận 3 nơi xảy ra việc trộm cắp tài sản ngày 20/7/2022 (kèm theo hồ sơ vụ án);
- 01 áo vải màu xám có hoa văn màu vàng nhạt ngắn tay, mặt trong túi bên phải phía dưới có 01 đường rách dài khoảng 07 cm, là áo mà bị hại H đã mặc và bị C rạch túi lấy trộm cắp tài sản vào ngày 20/07/2022 tại Bệnh viện Mắt.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 số serial: 357678103485167, thu giữ bên trong người của đối tượng Bị cáo C.
Tại Bản Cáo trạng số 83/CT-VKS-HS ngày 09/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bị cáo C về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như lời khai tại Cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Không có ý kiến tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 giữ quyền công tố phát biểu lời luận tội như sau: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h; điểm o; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Bị cáo C từ 09 (chín) tháng, đến 12 (mười hai) tháng tù. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý phần trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, cùng các tài liệu chứng cứ khác đủ có cơ sở kết luận: Vào 06 giờ ngày 20/7/2022, bị can đã có hành vi lén lút dùng dao lam rạch túi áo của bà H lấy trộm số tiền 7.130.000 đồng tại Bệnh viện Mắt tại số số 280 đường, phường S, Quận 3 thì bị phát hiện bắt quả tang.
Với những tình tiết được chứng minh tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bị cáo C phạm tội “Trộm cắp tài sản” nên Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 là có cơ sở, đúng với quy định của pháp luật.
. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức hành vi trên là vi phạm pháp luật nhưng do muốn có tiền tiêu xài mà không bỏ công sức lao động, nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, tội phạm đã hoàn thành.
. Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 09/02/2007, bị PC02 Công an TP.Hồ Chí Minh bắt đưa vào CSGD với thời gian 24 tháng. Ngày 01/04/2007, bị CAQ1 bắt về tội “Trộm cắp tài sản”, Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 09 tháng tù treo, 18 tháng thử thách. Ngày 24/09/2013, bị Công an phường Trảng Dài, TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mặc dù tiền sự của bị cáo đã được xóa nhưng là tình tiết cần xem xét khi lượng hình.
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy cần có mức án tù nghiêm khắc mới có đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần lưu ý đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối C; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị cáo là người đủ 70 tuổi trở lên. Do đó áp dụng các điểm o, điểm s; điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vật chứng của vụ án:
- 01 đĩa CD hiệu Maxell MQ màu vàng có đoạn video trích xuất từ camera giám sát tại tầng trệt Bệnh viện Mắt tại số số 280 đường, phường S, Quận 3 nơi xảy ra việc trộm cắp tài sản ngày 20/7/2022 lưu hồ sơ vụ án);
- 01 áo vải màu xám có hoa văn màu vàng nhạt ngắn tay, mặt trong túi bên phải phía dưới có 01 đường rách dài khoảng 07 cm, là áo mà bị hại H đã mặc và bị C rạch túi lấy trộm cắp tài sản vào ngày 20/07/2022 tại Bệnh viện Mắt, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 số serial: 357678103485167, thu giữ bên trong người của đối tượng Bị cáo C, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 3, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về án phí: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm o, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố bị cáo Bị cáo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Bị cáo C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/7/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
3. Về xử lý vật chứng:
- Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa CD hiệu Maxell MQ màu vàng có đoạn video trích xuất từ camera giám sát tại tầng trệt Bệnh viện Mắt tại số số 280 đường, phường S, Quận 3, đựng trong bì thư có mộc dấu của Công an Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Tịch thu tiêu hủy 01 áo vải màu xám có hoa văn màu vàng nhạt ngắn tay, mặt trong túi bên phải phía dưới có 01 đường rách dài khoảng 07 cm. Đựng trong 01 túi ni lông được quấn giấy và dán băng keo có điểm chỉ của đương sự H và mộc dấu của Công an Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Giao trả cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105 số serial: 357678103485167.
(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 621/LNK-CQCSĐT-ĐTTH ngày 05/10/2022)
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cao được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận : - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 3; - Công an Quận 3; - Sở Tư pháp; - Chi cục Thi hành án dân sự Q3; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (…) CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Phú Oanh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |