vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Tuyên án 13/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo So Minh H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 04/10/2022 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "So Minh Hiếu, Đinh Ngọc Huy và Lương Văn Hùng phạm tội "Trộm cắpt tài sản" - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 91 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VÂN CANH
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày: 13-03-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN CANH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Nhật - Cán bộ hưu trí.

Bà Lê Thị Thu Lợi - Nguyên hiệu trưởng Trường tiểu học xã Canh Hiệp.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa Sen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Canh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 03 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2023/QĐST-HS ngày 12/01/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2023/QĐST-HS ngày 08/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2023/QĐST-HS ngày 21/02/2023 đối với các bị cáo:

1. So Minh H , tên gọi khác: M , sinh ngày 06/10/2003 tại xã P , huyện Đ , tỉnh P1 ; nơi cư trú: àng M , xã Đ , huyện K , tỉnh ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Ba na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: So V , sinh năm 1983 và bà: Mang Thị H , sinh năm 1983; vợ con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 29/7/2021, bị Toà án nhân dân huyện Vân Canh xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 01/3/2022. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/9/2022, đến ngày 04/10/2022 bị bắt tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Vân Canh, “có mặt”.

2. Đinh Ngọc H1 , tên gọi khác: Không; sinh ngày 24/11/2003, tại huyện V , tỉnh B ; nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Làng S , xã C , huyện V , tỉnh B ; nghề nghiệp: Nông; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Ba na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Văn X, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T , sinh năm 1987; anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn, “có mặt”.

3. ương Văn H 2, tên gọi khác: Không; sinh ngày 29/11/2005 tại huyện V , tỉnh B .Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 06 tháng 11 ngày; nơi cư trú: Làng H , xã C , huyện V , tỉnh B ; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: ương Văn K , sinh năm 1984 và bà Đinh Thị H , sinh năm 1984; anh, chị, em ruột: Không; vợ, con: Không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn, “có mặt”.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lương Văn H : Anh ương Văn K , sinh năm 1984; nơi cư trú: Làng H , xã C , huyện V , tỉnh B ; nghề nghiệp: Nông (là cha đẻ của bị cáo ương Văn H ), “vắng mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo So Minh H: Ông Nguyễn Ánh Q - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc H1 : Bà Lê Tôn Nữ Kim Y - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, “có mặt”.

- Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn H 2: Bà Nguyễn Thị Hồng T - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Định, “có mặt”.

- Bị hại:

1. Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Vân Canh.

Người đại diện theo ủy quyền: Anh Trần Ngọc T , sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn 4, xã C , huyện V , tỉnh B , “có mặt”.

2. Anh Phan Vương T2 , sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

3. Chị Nguyễn Ngọc H3 , sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu phố T1 , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , “có mặt”.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Văn T3 , sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

2. Chị Trương Thị Kim L , sinh năm 1973; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

3. Anh Đinh Văn H4 , sinh năm 1997; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , , “ vắng mặt”

4. Anh Nguyễn Văn T4 , sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

5. Chị Lê Thị T , sinh năm 1979; nơi cư trú: Khu phố H , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

6. Anh Đào Văn T 5, sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố T1 , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

1. Chị Nguyễn Thị Xuân H , sinh năm 2007; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , “vắng mặt”.

2. Chị Nguyễn Thị Xuân Đ , sinh năm 1978; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B , “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

3. Chị Phan Thị Ngọc T , sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B, “vắng mặt”.

4. Anh Phan Tấn P , sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố T , thị trấn V , huyện V , tỉnh B, “vắng mặt”.

5. Anh Đào Văn , sinh năm 1992; nơi cư trú: Khu phố T2 , thị trấn V , huyện V , tỉnh B, “có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt”.

6. Anh Đào Minh V , sinh năm 1975; nơi cư trú: Khu phố H , thị trấn V , huyện V , tỉnh B “vắng mặt”.

7. Anh Hồ Đắc S, sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn H , xã C , huyện V , tỉnh , “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong tháng 6 năm 2022, các bị cáo ương Văn H , Đinh Ngọc H và So Minh H đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp các tấm sắt che mương nước tại nhà máy nước Suối Phướng thuộc khu phố Đắk Đâm, thị trấn Vân Canh, cụ thể:

Vụ thứ 1: Vào đầu tháng 6 năm 2022, ương Văn H rủ So Minh H đến nhà máy nước Suối Phướng trộm sắt, H đồng ý. Khoảng 18h30, H điều khiển xe mô tô chở H đến nhà máy nước. H leo qua hàng rào vào bên trong mang 01 tấm sắt che mương nước tại khu vực bể sục ra ngoài đưa cho H . H vào bên trong cùng H tiếp tục mang mỗi người 01 tấm sắt ra ngoài. Sau đó, H điều khiển xe mô tô chở H mang 03 tấm sắt vừa lấy được đến nhà Lê Thị T ở khu phố Hiệp Giao, thị trấn Vân Canh bán được 300.000 đồng. Cả hai cùng nhau tiêu xài hết số tiền này. Bà T không biết các tấm sắt do trộm cắp mà có.

Vụ thứ 2: Do được H kể về việc nhà máy nước để các tấm sắt không có ai trông coi nên vào trưa ngày 24/6/2022, Đinh Ngọc H đã một mình điều khiển xe mô tô đến nhà máy nước. H đã lấy 03 tấm sắt mang đến bán cho bà Trương Thị Kim L ở khu phố Thịnh Văn 1, thị trấn Vân Canh được 380.000 đồng tiêu xài hết.

Vụ thứ 3: Trưa ngày 27/6/2022, H tiếp tục một mình đến nhà máy nước trộm các tấm sắt. Khi đến nơi quan sát thấy không còn các tấm sắt che mương nước tại khu vực bể sục nên H đã đi đến phòng điều khiển, dùng tay kéo mạnh cửa làm bung bản lề tại vị trí chốt cửa, vào bên trong mang 03 tấm sắt ra ngoài. H dùng xe mô tô chở 03 tấm sắt đến bán cho bà L được 360.000 đồng tiêu xài hết. Bà L không biết các tấm sắt do H bán là do trộm cắp mà có.

Vụ thứ 4: Trưa ngày 29/6/2022, H rủ H đến nhà máy nước trộm sắt. H đồng ý và điều khiển xe mô tô chở Hùng đến nhà máy nước. Sau khi H phá cửa phòng điều khiển, cả hai đã lấy 02 tấm sắt mang ra ngoài. Huy điều khiển xe mô tô chở H mang 02 tấm sắt đi bán. Được một đoạn thì H xuống xe, để mình H chở 02 tấm sắt đến bán cho ông Nguyễn Văn T được 240.000 đồng. Ông T không biết các tấm sắt này do trộm cắp mà có. Số tiền có được, H và H cùng nhau tiêu xài hết.

Theo Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐ TS ngày 12/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vân Canh: 03 tấm sắt che mương nước bị mất trộm đầu tháng 6/2022; 03 tấm sắt che mương nước bị mất trộm ngày 24/6/2022 và 03 tấm sắt che mương nước bị mất trộm ngày 27/6/2022 cùng có trị giá 2.290.347 đồng; 02 tấm sắt che mương nước bị mất vào ngày 29/6/2022 có trị giá 1.526.898 đồng.

Ngoài ra, So Minh H còn thực hiện 02 vụ trộm cắp khác trên địa bàn thị trấn Vân Canh, cụ thể:

Vụ thứ 1: Vào khoảng 23h ngày 27/9/2022, H đột nhập vào nhà anh Phan Vương T ở khu phố Thịnh Văn 1 để tìm tài sản trộm cắp. H lẻn vào phòng thì thấy anh T đang ngủ, bên cạnh có 02 chiếc điện thoại di động Iphone 6 plus màu vàng và Samsung A01 màu xanh đen. H lén lút lấy 02 điện thoại này rồi tẩu thoát. Sáng ngày 28/9/2022, H đưa điện thoại Samsung A01 cho Đinh Văn H nhờ mang đến tiệm điện thoại của Nguyễn Văn T tại khu phố Thịnh Văn 1 để sửa. Ngày 01/10/2022, H bán điện thoại Iphone 6 plus cho Đào Văn T được 800.000 đồng. Số tiền bán điện thoại, H tiêu xài hết.

Theo Kết luận định giá số 31/KL-HĐĐ TS ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vân Canh: 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng trị giá 500.000 đồng và 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh đen trị giá 2.100.000 đồng.

Vụ thứ 2: Vào khoảng 23h20 ngày 02/10/2022, H đột nhập vào quán cà phê “Phương Anh” tại khu phố Thịnh Văn 2. H bỏ đôi dép bên ngoài rồi vào bên trong buồng tìm tài sản để trộm cắp. Thấy chị Nguyễn Ngọc H đang nằm ngủ, để điện thoại và túi xách bên cạnh nên H đã lén lút lấy 01 điện thoại Realme C12 màu đỏ san hô và tiền mặt bên trong túi. Lúc này, chị H tỉnh dậy phát hiện và hô hoán nên H bỏ chạy ra ngoài. Quá trình tẩu thoát, H đã làm rơi mất điện thoại không thu hồi được, còn số tiền chiếm đoạt Hiếu khai 1.400.000 đồng, đã tiêu xài hết 950.000 đồng, còn 450.000 đồng giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Theo Kết luận định giá số 30/KL-HĐĐ TS ngày 18/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Vân Canh: 01 điện thoại Realme C12 trị giá 2.100.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được vào khoảng giữa tháng 6 năm 2022, ương Văn H và Đinh Ngọc H còn có hành vi trộm cắp 01 cần câu cá có tay quay bên trong cốp xe mô tô của một người không xác định được lai lịch dựng tại khu vực Suối Một, khu phố Đắk Đâm, thị trấn Vân Canh, bán cho một người lạ với giá 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được bị hại.

Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 xe mô tô màu xanh đen, không có biển số; 06 tấm kim loại có cùng kích thước (0,7 x 0,47) m, bị rỉ sét; 450.000 tiền VNĐ; 01 đôi dép nhựa màu xanh, bên trên có in chữ “adidas” màu trắng, dính sơn đỏ; 01 điện thoại Samsung A01 màu xanh đen; 01 điện thoại Iphone 6 plus màu vàng. Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho ông Trần Ngọc T - đại diện của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Vân Canh 06 tấm kim loại; trả cho bà Nguyễn Ngọc H 450.000 đồng; trả cho ông Phan Vương Thắng điện thoại Samsung A01 và điện thoại Iphone 6 plus.

Bản cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 16/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H và ương Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, các bị cáo H, H1 và H2 nhận tội và không có ý kiến tranh luận.

Các bị hại: Anh T yêu cầu các bị cáo H, H1 và H2 phải bồi thường 05 tấm kim loại bị mất không thu hồi được có tổng giá trị là 3.817.245 đồng, riêng đối với thiệt hại do các khung cửa của phòng điều khiển bị hư hỏng không yêu cầu bồi thường. Chị H yêu cầu bị cáo H bồi thường giá trị 01 điện thoại Realme C12 số tiền là 2.100.000 đồng và số tiền bị mất là 9.550.000 đồng. Riêng anh T đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và Lương Văn H2 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo So Minh H mức án từ 09 đến 12 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H1 mức án từ 06 đến 09 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ương Văn H2 mức án từ 03 đến 06 tháng tù;

Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự đề nghị tổng hợp hình phạt với Bản án số 24/2022/HS-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh xử phạt các bị cáo Đinh Ngọc Huy 04 năm tù và bị cáo ương Văn H 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất Vân Canh giá trị 05 tấm kim loại bị mất có tổng giá trị là 3.817.245 đồng. Buộc bị cáo So Minh H phải bồi thường cho chị Nguyễn Ngọc H trị giá 01 điện thoại Realme C12 số tiền là 2.100.000đ và số tiền bị mất là 950.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo H phải bồi thường cho bị hại H là 3.050.000 đồng. Riêng anh T đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô màu xanh đen, không có biển số và tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu xanh, bên trên có in chữ “adidas” màu trắng, dính sơn đỏ;

Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Ánh Q bào chữa cho bị cáo So Minh H trình bày bản luận cứ: Thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, Điều luật áp dụng đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo So Minh H mức án từ 06 đến 09 tháng tù;

Trợ giúp viên pháp lý: Bà Lê Tôn Nữ Kim Y bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc H1 trình bày bản luận cứ: Thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, Điều luật áp dụng đối với bị cáo Huy và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H1 mức án 06 tháng tù;

Trợ giúp viên pháp lý: Bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo ương Văn H2 trình bày bản luận cứ: Thống nhất với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và Điều luật áp dụng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo ương Văn H2 mức án từ án 03 tháng tù.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo, các bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận tội, lời khai của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; những người làm chứng và các tài liệu chứng có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo không có nghề nghiệp, lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nên trong khoảng thời gian từ đầu tháng 6 đến tháng 10 năm 2022, So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 đã thực hiện nhiều lần hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn thị trấn Vân Canh. Trong đó, So Minh H thực hiện 03 vụ, chiếm đoạt 03 tấm sắt của Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Vân Canh, 01 điện thoại Iphone 6 plus và 01 điện thoại Samsung A01 của Phan Vương T ; 01 điện thoại Realme C12 và số tiền 1.400.000 đồng của Nguyễn Ngọc H , có tổng trị giá 8.390.347 đồng. Đinh Ngọc H 1 thực hiện 03 vụ, chiếm đoạt 08 tấm sắt của Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Vân Canh, trị giá 6.107.592 đồng. Bị cáo ương Văn H2 thực hiện 02 vụ, chiếm đoạt 05 tấm sắt của Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất huyện Vân Canh, trị giá 3.817.245 đồng. Hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ tội phạm: Đối với các vụ trộm tài sản xảy ra tại nhà máy nước Suối Phướng có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo đều có ý thức muốn chiếm đoạt tài sản, từng bị cáo đều có vai trò là người thực hành, không có sự bàn bạc hay phân công vai trò của từng bị cáo. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đều thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ và làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án tù có thời hạn tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, nhằm có tác dụng đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân xấu: Bị cáo So Minh H ngày 29/7/2021, bị Toà án nhân dân huyện Vân Canh xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 01/3/2022 bị cáo tiếp tục phạm tội; bị cáo Đinh Ngọc H , ngày 08/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Canh xử phạt 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; bị cáo ương Văn H , ngày 08/12/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Vân Canh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, các bị cáo Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 đang chấp hành án tại Trại giam Kim Sơn.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo H và H1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo ương Văn H2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được xem xét tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo H1 trong giai đoạn xét xử gia đình đã tự nguyện nộp tiền bồi thường, khắc phục hậu quả; ngoài ra còn có ông nội là Đinh Văn Khởi, ông bà cố nội là ông ê Văn Tự và bà ê Thị uốc là người có công với cách mạng và được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến Hạng nhất nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 “thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo H và H1. Riêng bị cáo H2 là người dưới 18 tuổi, nên căn cứ khoản 6 Điều 91 Bộ luật Hình sự không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo H2.

Về trách nhiệm dân sự:

[6.1.] Xét thấy yêu cầu bồi thường của anh T yêu cầu các bị cáo H , H1 và H2 liên đới bồi thường giá trị 05 tấm kim loại bị mất có tổng giá trị là 3.817.245 đồng và các bị cáo đều chấp nhận bồi thường là phù hợp nên được chấp nhận.

Đối với yêu cầu của chị H yêu cầu bị cáo H bồi thường giá trị điện thoại Realme C12 là 2.100.000đ (theo giá trị định giá của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự) là phù hợp và bị cáo H cùng thống nhất bồi thường nên được chấp nhận. Riêng số tiền 10.000.000 đồng bị mất trộm và Cơ quan điều tra công an huyện Vân Canh đã thu hồi được từ bị cáo H trả lại cho chị H số tiền 450.000 đồng và chị tiếp tục yêu cầu bị cáo H phải bồi thường cho chị số tiền còn lại là 9.550.000 đồng là không có căn cứ. Vì căn cứ lời khai bị cáo H tại phiên tòa và các lời khai tại cơ quan điều tra thì bị cáo H chỉ lấy trộm của chị H số tiền 1.400.000 đồng. Mặt khác các lời khai của chị H tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa không chứng minh được mệnh giá của từng loại tiền và chị cũng không cung cấp được chứng cứ nào để chứng minh cho yêu cầu về số tiền bị mất trên là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận yêu cầu bồi thường số tiền còn lại là 950.000 đồng.

Từ những nhận định trên, căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng và phát triển quỹ đất Vân Canh số tiền là 3.817.245 đồng. Buộc bị cáo So Minh H phải bồi thường cho chị Nguyễn Ngọc H tổng số tiền là 3.050.000 đồng.

Riêng anh T đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô màu xanh đen, không có biển số và tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu xanh, bên trên có in chữ “adidas” màu trắng, dính sơn đỏ;

Đối với những người liên quan chị Lê Thị T , chị Trương Thị Kim L , anh Đào Văn T mua tài sản do các bị cáo trộm cắp bán nhưng không biết các tài sản này do trộm cắp mà có nên không phạm tội. Anh Nguyễn Văn T không thừa nhận có hành vi mua sắt do bị cáo H1 bán, tuy nhiên H1 cũng không nói nguồn gốc các tài sản này nên không xem xét xử lý hành vi của anh T . Đối với Đinh Văn H , Nguyễn Văn T có hành vi nhận điện thoại từ bị cáo H để sửa nhưng không biết nguồn gốc nên không xem xét.

Trong vụ trộm tại nhà máy nước vào đầu tháng 6 năm 2022, bị cáo H có hỏi mượn xe mô tô của bị cáo H1để chở H2 đi trộm cắp nhưng H1 không biết mục đích mượn xe của H là để trộm cắp nên không đồng phạm với Hiếu.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo So Minh H , Lương Văn H1 và Đinh Ngọc H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Xét đề nghị của các Trợ giúp viên pháp lý: Ông Nguyễn Ánh Q bào chữa cho bị cáo So Minh H đề nghị về mức hình phạt là chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận;

Xét đề nghị của các Trợ giúp viên pháp lý bà Lê Tôn Nữ Kim Y bào chữa cho bị cáo Đinh Ngọc H1; Bà Nguyễn Thị Hồng T bào chữa cho bị cáo ương Văn H2 đề nghị về mức hình phạt đối với các bị cáo H1 và H2 là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng đối với bị cáo So Minh H ;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng đối với bị cáo Đinh Ngọc H1;

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 91; Điều 101; khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) áp dụng đối với bị cáo ương Văn H2;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017); khoản 1 Điều 584; khoản 1 Điều 585; Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 đều phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo So Minh H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 04/10/2022 .

2.2. Xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H1 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt bản án số 24/2022/HS-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H1 04 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo Đinh Ngọc H1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành bản án số 24/2022/HS-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

2.3. Xử phạt bị cáo ương Văn H2 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt bản án số 24/2022/HS-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định xử phạt bị cáo ương Văn H2 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Bị cáo ương Văn H2 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án số 24/2022/HS-ST ngày 08/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định.

3. Về trách nhiệm dân sự:

3.1. Buộc các bị cáo So Minh H, Đinh Ngọc H và ương Văn H phải phải có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Ban quản lý dự án đầu tư, xây dựng huyện Vân Canh số tiền 3.817.245 đồng (ba triệu, tám trăm mười bảy nghìn, hai trăm bốn mươi lăm đồng). Tạm giữ số tiền 1.500.000 đồng do gia đình bị cáo H đã nộp theo biên lai số 0004923 ngày 07/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Canh để đảm bảo thi hành án.

3.2. Buộc bị cáo So Minh H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Ngọc H số tiền là 3.050.000 đồng (Ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô màu xanh đen, không có biển số và tịch thu tiêu hủy 01 đôi dép nhựa màu xanh, bên trên có in chữ “adidas” màu trắng, dính sơn đỏ (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2022).

5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo So Minh H , Đinh Ngọc H1 và ương Văn H2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, các bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ.

7. Quyền và nghĩa vụ thi hành án:

7.1. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

7.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ