- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoài Minh T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hoài Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 24-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Năm;
Ông Nguyễn Hồng Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 01 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoài Minh T, (tên gọi khác: Không); sinh năm 1998; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp Xã Lới, xã T, thị xã C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Trần Văn C, (chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim H; vợ: Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 2003 (chưa đăng ký kết hôn); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Thủ Thừa từ ngày 27/10/2022 đến nay.(có mặt)
- Bị hại: Anh Nguyễn Tấn P, sinh năm: 1987.
Địa chỉ: Ấp 7, xã T, huyện T, tỉnh Long An.(vắng mặt không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 27/10/2022, Nguyễn Hoài Minh T được đối tượng tên L (không rõ nhân thân) điện thoại rủ đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, T đồng ý. Cả hai gặp nhau ở huyện Bình Chánh, sau đó L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider (không rõ biển số) chở T đi theo Quốc lộ 1A đến địa bàn tỉnh Long An tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 04 giờ cùng ngày, L phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, biển số 62P1-4195 của anh Nguyễn Tấn P, đang đậu ở đường hẻm phía trước nhà trọ không tên của anh Nguyễn Thanh Bình ở Ấp 7, xã T, huyện T, không có người trông coi. L và T thống nhất lấy trộm xe mô tô 62P1-4195. L đậu xe ở cặp Quốc lộ 1A, xuống xe đi bộ vào đường hẻm để lấy trộm xe 62P1-4195 còn T đứng ở đầu đường hẻm để cảnh giới. Sau khi lấy trộm được xe, L điều khiển xe 62P1-4195 tẩu thoát về hướng TP. Hồ Chí Minh, T điều khiển xe Suzuki Raider chạy theo sau. Khi đi đến khu vực thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh thì L và T đổi xe với nhau. T điều khiển xe 62P1-4195 đi đến khu vực thuộc Ấp 4, xã N, huyện B thì bị lực lượng tuần tra Công an tỉnh Long An truy đuổi, phát hiện bắt giữ cùng tang vật còn L tẩu thoát chưa tìm được.
Tại kết luận định giá tài sản số 1148/KL-HĐĐG ngày 01/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủ Thừa kết luận: Giá trị xe mô tô 62P1-4195 tại thời điểm ngày 27/10/2022 là 3.200.000đ.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 05/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa truy tố Nguyễn Hoài Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoài Minh T về tội “Trộm cắp tài sản”. Trong phần luận tội, ông Kiểm sát viên đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm: h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Bị cáo không thực hiện quyền tranh luận mà xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 260 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình điều tra, truy tố vụ án thì hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và kiểm sát viên tiến hành đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoài Minh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại tại CQĐT, biên bản thu giữ vật chứng và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa nên có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 4 giờ sáng ngày 27/10/2022, bị cáo Nguyễn Hoài Minh T và đối tượng tên L không rõ nhân thân đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô 62P1-4195 trị giá 3.200.000đ của anh Nguyễn Tấn P, đang đậu ở nhà trọ do anh Phát thuê ở tại Ấp 7, xã T, huyện T. Do đó hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa đã phản ánh đúng hành vi mà bị cáo T đã thực hiện, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xác định cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi trái pháp luật của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, hành vi đó không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo một hình phạt nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ như: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm T; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn.
Đề nghị của ông Kiểm sát viên là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
Đối với tên L (không rõ nhân thân) đã cùng Nguyễn Hoài Minh T thực hiện hành vi trộm cắp xe mô tô biển số 62P1-4195. Qua làm việc, T không biết rõ nhân thân, lai lịch của L. Do đó, chưa đủ cơ sở xử lý hình sự đối với L, giao Cơ quan CSĐT Công an huyện Thủ Thừa tiếp tục xác minh làm rõ khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Đối với điện thoại di động mà T sử dụng liên lạc với L, T khai nhận trong quá trình đem xe mô tô 62P1-4195 đi tiêu thụ đã làm rớt mất điện thoại, Cơ quan CSĐT không thu giữ được.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Hoài Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; các điểm: h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoài Minh T 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù tính từ ngày 27/10/2022.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Hoài Minh T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/02/2023) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24-02-2023). Anh Nguyễn Tấn P vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Thủ Thừa; - Chi cục THADS huyện Thủ Thừa; - Công an huyện Thủ Thừa; - Sở tư pháp tỉnh Long An; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |