vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 12/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH Q

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày 12.01.2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T

Thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n - Chñ täa phiªn tßa: ¤ng Trần Mai Hùng

C¸c Héi thÈm nh©n d©n:

1. Ông Nguyễn Đăng Thám.

2. Ông Nguyễn Công Phúc.

Thư ký Tßa ¸n ghi biªn b¶n phiªn tßa: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan - C¸n bé Toµ ¸n nh©n d©n huyện T, tØnh Q.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện T, tØnh Q tham gia phiªn tßa: Bà Phan Thị Thành- KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 12 th¸ng 01 n¨m 2023, t¹i Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xÐt xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè: 91/2022/HS-ST ngµy 06.12.2022 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2022/ QĐXX.ST ngày 29.12.2022 ®èi víi bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 1997. Tại: T, Q. Nơi ĐKNKTT và chổ ở hiện nay Tổ 3, thôn Tứ S, xã B, huyện T, tỉnh Q. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hoá: 10/12. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Ng, sinh năm 1973 và bà Ng Th Th Th, sinh năm 1971 ; Vợ Ph Thị H, sinh năm 2000; Có 02 con, con lớn sinh năm 2018; con nhỏ sinh năm sinh năm 2020.

Tiền sự: không;

Tiền án: Ngày 26/3/2021, Nguyễn Văn L bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;

Nhân thân: ngày 02/11/2016, bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Có mặt.

- Người bị hại: Ông Lê T, sinh năm 1964.

Trú tại: Tổ 2, thôn N, xã N, huyện T, tỉnh Q.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phạm Tr S, sinh năm 1964

Trú tại: Tổ 1, thôn B xã B, huyện T, tỉnh Q.

2/ Chị Lê T Th S, sinh năm 1987.

Trú tại: Thôn An, xã Tam , huyện P, tỉnh Q.

(Tại phiên Tòa có mặt bị cáo. Bị hại và những người liên quan vắng mặt

không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 26/3/2021, Ng V L bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích. Nhưng vào khoảng 11 giờ ngày 16/8/2022, bị cáo đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi tìm nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản, Lý điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS 43K9-7808 (xe này của ông Phạm Tr S, sinh năm 1964, trú: xã B, T, Q - cha vợ của L) đi từ ngã tư Kỳ Lý, huyện P xuống đường ĐT 619, sau đó rẽ phải xuống đường ĐH03 đi về hướng xã B. Khi L đến ngã tư thôn N, xã B thì nhìn thấy một chiếc xe bò của ông Lê T để bên đường ĐH 03 và không có người trông coi nên đi lại lấy chiếc xe bò để lên xe mô tô BKS 43K9-7808 kéo đi tìm nơi tiêu thụ. Ng V L kéo xe bò đến tiệm phế liệu của bà Lê Th Th bán cho bà S được số tiền 600.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết.

Đến 12 giờ cùng ngày, ông Lê T phát hiện bị mất tài sản nên trình báo đến Công an xã B, Công an xã B đã trích xuất dữ liệu từ camera an ninh của xã nên triệu tập Ng V L đến làm việc. Quá trình điều tra, Ng V L đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp như trên.

Tại bản cáo trạng số 77/CT- VKS ngày 30.11.2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Ng V L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện T giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Ng V L về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS. Căn cứ vào lời khai và chứng cứ trong hồ sơ cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX : Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51của BLHS. Xử phạt Ng V L từ 09 đến 12 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong và không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chúng: Cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD trích xuất dữ liệu camera ghi lại hình ảnh Ng V L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình là sai trái, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện cải tạo thành công dân có ích cho xã hội và sớm hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Tại phiên Toà hôm nay, bị cáo Ng V L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như theo quan điểm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà hôm nay. Vào khoảng 11 giờ ngày 16/8/2022, bị cáo đang ở nhà thì nảy sinh ý định đi tìm nhà dân nào sơ hở để trộm cắp tài sản, nên bị cáo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream BKS 43K9-7808 đi từ ngã tư Kỳ Lý, huyện P xuống đường ĐT 619, sau đó rẽ phải xuống đường ĐH03 đi về hướng xã B. Khi L đến ngã tư thôn N, xã B thì nhìn thấy một chiếc xe bò để bên lề ngoài nên đi lại lấy chiếc xe bò để lên xe mô tô BKS 43K9-7808 kéo đi tìm nơi tiêu thụ. Ng V L kéo xe bò đến tiệm phế liệu của bà Lê Th Th S bán cho bà S được số tiền 600.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết. Theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Thăng Bình kết luận: 01 xe bò kéo trị giá 1.110.000 đồng. Do bị cáo có một tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội. Do đó, VKSND huyện T đã truy tố bị cáo về tội “ Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của BLHS là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò trách nhiệm của bị cáo trong vụ án thì thấy:

Quyền sở hữu hợp pháp của công dân đối với tài sản luôn được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm một cách bất hợp pháp đến tài sản của người khác điều bị pháp luật trừng trị. Bị cáo lợi dụng sự chủ quan, mất cảnh giác và không quản lý tài sản, nên đã tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây tư tưởng hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, nên cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét c¸c t×nh tiÕt t¨ng nÆng, gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù vµ nh©n th©n của bị cáo thì thấy:

Bị cáo có nhân thân xấu, Ngày 26/3/2021, Ng V L bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo chấp hành xong hình phạt tù vào này 29/01/2022. Chưa hết thời hạn xóa án tích của bản trên thì bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp với lỗi cố ý. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình, bị cáo đã rất ăn năn, hối cải về hành vi sai trái của mình, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội gây thiệt hại không lớn, người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy đinh tại điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của BLHS cần phải áp dụng khi lượng hình cho bị cáo để giảm bớt một phần hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong và không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ 01 xe mô tô BKS 43K9-7808; 01 xe bò do Ng V L giao nộp; 01 đĩa CD trích xuất dữ liệu camera ghi lại hình ảnh Ng V L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trao trả lại xe mô tô BKS 43K9-7808 và xe bò cho các chủ sỡ hữu hợp pháp, nên HĐXX không xem xét. Đối với 01 đĩa CD trích xuất dữ liệu camera ghi lại hình ảnh Ng V L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cần lưu trữ theo hồ sơ vụ án.

Khi Ng V L sử dụng xe mô tô BKS 43K9-7808 làm phương tiện phạm tội, ông Phạm Tr S không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề nghị tịch thu xe mô tô BKS 43K9-7808 là có căn cứ.

Bà Nguyễn Th Th S khi mua chiếc xe bò do Ng V L trộm cắp mà có, bà S không biết tài sản này là do trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý.

Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;

Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh:

1. Tuyên bố: Bị cáo Ng V L phạm tội: "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Ng V L 09 ( Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam ngày 12/10/2022.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng 47 cần tiếp tục lưu trữ theo hồ sơ vụ án 01 đĩa CD trích xuất dữ liệu camera ghi lại hình ảnh Ng V L thực hiện hành vi trộm cắp tài sản theo hồ sơ vụ án. 4/ Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ng V L phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) án phí HSST.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12.01.2023).

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ