vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Tuyên án 09/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/02/2023). Giao bị cáo Lê Văn T về cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục tron… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn Trân - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÙ MỸ
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày 09-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Truyền;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoà.

2. Ông Lê Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khaivụ án hình sự sơ thẩmthụ lý số: 73/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2255/2022/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2022 đốivới bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1967; nơi sinh: Huyện PM, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Làm biển; nơi cư trú: Thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; trình độ văn hoá (học vấn): 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con Lê C (chết) và bà Huỳnh Thị Ch (chết); có vợ và 04 người con, lớn nhất sinh năm 1992, nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam: Không; bị cáo đang tại ngoại, có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1953; nơi cư trú: Thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.

Người làm chứng:

Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1980; nơi cư trú: Thôn 8 Đ, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.

Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1955; nơi cư trú: Thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; có mặt.

Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt.

Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn 8 Đ, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/7/2022, Lê Văn T sau khi sử dụng rượu bia cầm theo cái chày đi đến nhà ông Nguyễn Minh T (sinh năm 1953, ở thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ) để tìm đánh ông T. Khi tới, T đứng trước cổng ngõ nhà ông T lớn tiếng, la chửi. Nghe tiếng T la chửi nên vợ ông T là bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1955) ra trước nhà nói chuyện với T, nhưng T vẫn tiếp tục lớn tiếng la chửi, thách đố đòi đánh nhau với ông T. Thấy vậy, ông T đi từ trong nhà ra thì T cũng đi từ ngoài cổng ngõ vào phía trong khuôn viên nhà ông T. Lúc ông T và T đứng đối diện ở mép sân nhà nói chuyện thì hai bên có lời qua tiếng lại, thách đố đánh nhau.T dùng tay phải cầm cái chày gỗ đánh từ trên xuống một cái trúng vào vùng trán bên phải của ông T;T tiếp tục dùng chày gỗ đánh về phía ông T, ông T đưa tay trái lên đỡ nên cái chày rơi xuống đất. Hai bên tiếp tục xông vào giằng co,xô xát với nhau, ông T ôm vật T ngã xuống đất. Lúc này, ông T phát hiện mình bị thương, nên hô hoán gia đình lấy dây để trói T lại. Nghe vậy, bà L lấy một sợi dây thừng đưa cho ông T trói hai tay T lại rồi báo cáo chính quyền địa phương. Khoảng 05 phút sau, Công an xã Mỹ Thắng và chính quyền địa phương đến lập biên bản đưa T về trụ sở để làm việc; ông T được gia đình đưa đi sơ cứu tại Trạm y tế xã Mỹ An, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Đến ngày 13/7/2022 ông T đến Trung tâm y tế huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định điều trị đến ngày 14/7/2022 thì xuất viện.

Ngày 25/8/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Bình Định có bản kết luận giám định pháp y số 224/2022/PY-TgT kết luận:

- Vết thương vùng trán phải gây đau đầu, chóng mặt, không nôn, glasgow 15 điểm không tổn thương xương trên phim chụp Xquang đã điều trị. Hiện để sẹo vùng trán phải, Điện não đồ biến đổi nhẹ.Tỷ lệ: 06% (sáu phần trăm).

- Xây xát da ngón I bàn chân phải đã điều trị. Hiện để sẹo mặt trong ngón I bàn chân phải; vận động ngón I bàn chân phải trong giới hạn bình thường.Tỷ lệ: 01% (một phần trăm).

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại của Nguyễn Minh T là 07% (bảy phần trăm).

Phần dân sự: Các bên chưa thoả thuận bồi thường xong về phần dân sự.

Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKSPM ngày 08/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã truy tố Lê Văn T ra trước Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa đại diện VKSND huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Công nhận sự thỏa thuận của bị cáo và bị hại. Bị cáo T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại ông Nguyễn Minh T số tiền 9.100.000 (chín triệu một trăm nghìn) đồng.

- Về vật chứng: Áp dụng các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cái chày bằng gỗ, màu vàng, dài 20cm, hình trụ tròn, nơi rộng nhất đường kính 04cm; 01 (một) áo thun màu trắng, sọc ngang màu đen kích thước (73x80)cm, dính nhiều chất bẩn dạng bụi đất và chất màu nâu đỏ nghi máu rải rác.

Tại phiên toà bị cáo Lê Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội nêu trên, không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị hại không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố vụ án đúng quy định.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Đối chiếu lời khai của bị cáo tại phiên tòa cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đều hoàn toàn phù hợp. Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ cơ sở kết luận:

Do có mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11/7/2022, tại nhà ở của ông Nguyễn Minh T, trú thôn 7 N, xã MT, huyện PM, tỉnh BĐ, Lê Văn T đã có hành vi dùng cái chày gỗ đánh trúng vào vùng trán phải và xây xát da ngón I bàn chân phải của ông Trắcgây thương tích với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 07%.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của ông T được pháp luật bảo vệ. Xét cần thiết phải lên một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, để bị cáo có đủ thời gian cải tạo, giáo dục trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội; đồng thời có tính răn đe, phòng ngừa chung cho những kẻ có hành vi tương tự.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Bị cáo là con mẹ Việt Nam anh hùng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, có nghề nghiệp ổn định, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 nên chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để cải tạo mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giáo dục là đến mức cần thiết.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với thiệt hại về sức khỏe của bị hại ông Nguyễn Minh T: Tại phiên tòa bị cáo T và bị hại ông Nguyễn Minh T thỏa thuận thống nhất. Bị cáo T bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại T số tiền 9.100.000 (chín triệu một trăm nghìn) đồng. Xét việc thỏa thuận giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với đạo đức xã hội và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 8.000.000 đồng mà ông Lê Văn T đã nộp để khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0003515 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Phù Mỹ để đảm bảo việc thi hành án.

Về xử lý vật chứng: 01 (một) cái chày bằng gỗ, màu vàng, dài 20cm, hình trụ tròn, nơi rộng nhất đường kính 04cm; 01 (một) áo thun màu trắng, sọc ngang màu đen kích thước (73x80)cm, dính nhiều chất bẩn dạng bụi đất và chất màu nâu đỏ nghi máu rải rác. Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, vật không có giá trị nên tịch thu, tiêu huỷ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự

Về đề nghị của Kiểm sát viên: Về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo đều phù hợp với nhận định trên, nên được chấp nhận.

Về án phí Hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm:

Bị cáo Lê Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015;

Căn cứ vào vào điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; 136; 331; 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 1 Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/02/2023).

Giao bị cáo Lê Văn T về cho Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Lê Văn T vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lê Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Lê Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

Buộc bị cáo Lê Văn T bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại Nguyễn Minh T số tiền 9.100.000 (chín triệu một trăm nghìn) đồng.

Tiếp tục tạm giữ số tiền 8.000.000 đồng mà ông Lê Văn T đã nộp để khắc phục hậu quả theo biên lai thu số 0003515 ngày 20/12/2022 của Chi cục Thi hành án huyện Phù Mỹ để đảm bảo việc thi hành án.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại các Điều 357, 468 Bộ luật dân sự 2015.

4. Về các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cái chày bằng gỗ, màu vàng, dài 20cm, hình trụ tròn, nơi rộng nhất đường kính 04cm; 01 (một) áo thun màu trắng, sọc ngang màu đen kích thước (73x80)cm, dính nhiều chất bẩn dạng bụi đất và chất màu nâu đỏ nghi máu rải rác.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/12/2022 giữa Công an huyện Phù Mỹ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định).

5. Về án phí:

5.1 Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5.2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 455.000 (bốn trăm năm mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

7. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ