- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi văn Th Bùi Văn L trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| OÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 10 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Ơn; Ông Bùi Văn Lọt.
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Tú Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 10/02/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 01 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Bùi Văn Thiệu, sinh ngày 24/07/1997 tại xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nơi cư trú: xóm Trắng Đồi, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Bố đẻ: Bùi Văn Lưm, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Bùi Thị Thâm, sinh năm 1975; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em. Vợ, con: Chưa có;
Tiền sự: Không;
Tiền án: 02 tiền án, Ngày 23/5/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, ngày 08/11/2018 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Đến ngày 31/5/2020, chưa được xóa án tích đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, ngày 06/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/11/2022. Có mặt.
2. Quách Văn Lâm, sinh ngày 11/10/1989 tại xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: xóm Bùi Bái, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 04/12; Bố đẻ: Quách Văn Sẵng; Mẹ đẻ: Bùi Thị Nhiển; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có 02 anh em; Vợ: Bùi Thị Thiết, sinh năm 1989; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/11/2022. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn Lâm: Ông Bùi Văn Mạnh – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người bị hại: Công ty TNHH Mỹ Phong. Địa chỉ: phố Độc Lập, TT Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Bùi Văn Sư, sinh năm 1975. Nơi cư trú: phố Mường Vôi, TT Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Thiết, sinh năm 1989. Nơi cư trú: xóm Bùi Bái, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 11/8/2022, Bùi Văn Thiệu đi đến khu Công viên thuộc thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chơi thì gặp Quách Văn Lâm. Do đều là đối tượng nghiện chất ma túy và đang không có tiền tiêu sài, Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm đã bàn bạc, rủ nhau đi quanh thị trấn Vụ Bản tìm tài sản không có người trông coi để lấy trộm tài sản bán lấy tiên tiêu sài. Quách Văn Lâm nói cho Bùi Văn Thiệu biết khu Bãi cống của Công ty TNHH Mỹ Phong thuộc phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình có sắt không có ai trông coi và đến đấy lấy tài sản, nghe xong Bùi Văn Thiệu đồng ý. Sau đó Bùi Văn Thiệu lấy xe mô tô BKS 28G1 – 307.83 do Quách Văn Lâm đi đến rồi một mình đi đến kho Bãi cống của Công ty TNHH Mỹ Phong, còn Quách Văn Lâm ở lại Công viên đợi Bùi Văn Thiệu quay lại. Khi Bùi Văn Thiệu đến nơi, Bùi Văn Thiệu đã lén lút đi xe vào trong kho Bãi để tìm tài sản thì phát hiện trong kho Bãi cống của Công ty Mỹ Phong có các tấm sắt đã được đan thành dạng vỉ, Bùi Văn Thiệu lấy các thanh sắt đó cho lên xe mô tô chở quay ra Công viên đón Quách Văn Lâm, rồi cùng Quách Văn Lâm mang các tấm sắt trên lên khu vực phố Tân Giang, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, bán cho một người phụ nữ không quen biết được số tiền là 285.000đ (Hai trăm tám lăm nghìn đồng). Bùi Văn Thiệu là người trực tiếp giao dịch bán sắt và cầm tiền bán được. Sau khi bán được sắt, Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm quay lại Công viên, rồi Bùi Văn Thiệu tiếp tục rủ Quách Văn Lâm cùng đi sang khu Bãi cống của Công ty Mỹ Phong để trộm cắp tiếp, Quách Văn Lâm đồng ý. Quách Văn Lâm là người lái xe, còn Bùi Văn Thiệu ngồi sau. Khi đi đến khu vực cổng phố Mường Vôi, thị trấn Vụ Bản thì Bùi Văn Thiệu bảo Quách Văn Lâm dừng xe lại và bảo Quách Văn Lâm ở lại đó đợi, cảnh giới cho Bùi Văn Thiệu, còn Bùi Văn Thiệu một mình đi vào khu Bãi cống của Công ty Mỹ Phong để lục tìm tài sản. Khi Bùi Văn Thiệu vào được bên trong khu Bãi cống thì phát hiện thấy 02 (hai) máy hàn điện, cùng 02 (hai) dây hàn kèm theo máy hàn, ở trong phòng vật tư của kho Bãi công ty Mỹ Phong có cửa đã khóa, không có người trông coi, Bùi Văn Thiệu đã lén lút xâm nhập qua khe hở trên tường phía có cửa vào kho lấy trộm các tài sản trên, rồi lại trèo quay ra qua khe hở trên tường và quay ra chỗ Quách Văn Lâm đang đợi. Khi ra đến nơi Quách Văn Lâm đợi, lúc này, Bùi Văn Thiệu là người lái xe, Quách Văn Lâm ngồi sau và cả hai mang tài sản trộm cắp được đi xuống hướng huyện Yên thủy bán cho người đàn ông không quen biết ở khu vực xóm Re, xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, được tổng số tiền là 1.200.000đ (một triệu hai trăm nghìn đồng). Quá trình giao dịch bán tài sản ăn trộm được ở trên, Bùi Văn Thiệu vẫn là người trực tiếp giao dịch và cầm tiền. Sau khi tiêu thụ được tài sản, Quách Văn Lâm và Bùi Văn Thiệu đi quay về, khi đi đến một Trạm xăng dầu ở khu vực xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, lúc này Quách Văn Lâm là người lái xe, Bùi Văn Thiệu ngồi sau, Quách Văn Lâm rẽ vào để đổ xăng, thì được Bùi Văn Thiệu chia cho Quách Văn Lâm số tiền là 70.000đ (Bảy mươi nghìn đồng) để Quách Văn Lâm dùng đổ xăng xe. Khi cả hai về đến thị trấn Vụ Bản thì Bùi Văn Thiệu đã mua ma túy của một người đàn ông không quen biết, tại khu vực Cầu Vụ Bản thuộc thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn hết số tiền là 600.000đ (Sáu trăm nghìn đồng), rồi Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm tìm chỗ vắng vẻ cùng sử dụng ma túy. Sau khi Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm cùng sử dụng ma túy xong, thì Bùi Văn Thiệu Và Quách Văn Lâm tự đi về nhà của mình. Từ đó, Quách Văn Lâm không gặp lại Bùi Văn Thiệu lần nào nữa. Số tiền còn lại do tiêu thụ tài sản trộm cắp có được một mình Bùi Văn Thiệu đã dùng tiêu sài vào mục đích cá nhân hết. Sau đó, Bùi Văn Thiệu bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 08/11/2022, Bùi Văn Thiệu đã đến Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng Quách Văn Lâm ngày 11/8/2022. Đến ngày 23/11/2022, Quách Văn Lâm cũng đã đến Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa bình đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản ở trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 06/KL-HĐĐGTS, ngày 06/10/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, kết luận: Giá trị của 02 (hai) Máy hàn điện tử nhãn hiệu OSHIMA màu đen là: 8.000.000đ (tám triệu đồng); 02 (hai) dây cáp hàn màu đen theo máy hàn là: 1.000.000đ (Một triệu đồng); Tấm thép phi 10 hàn dạng vỉ tổng trọng lượng là 27 kg có giá trị là: 189.000đ (một trăm tám chín nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản là: 9.189.000đ (chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 28G1-307.83, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE @, màu sơn xanh – đen. Xe cũ đã qua sử dụng, xe bị vỡ phần cánh yếm bên trái, phần máy móc không kiểm tra. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Bùi Thị Thiết (sinh năm 1989, trú tại xóm Bùi Bái, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình, là vợ Quách Văn Lâm). Việc Lâm và Thiệu thực hiện hành vi phạm tội chị Thiết không biết và không liên quan, do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu.
Đối với các vật chứng khác, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay không thu hồi được.
Về dân sự: Ông Bùi Văn Sư là đại diện của Công ty TTHH Mỹ Phong có yêu cầu, đề nghị các bị cáo Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm bồi thường số tiền tổng là: 9.189.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng) là giá trị của các tài sản bị mất trộm ngày 11/8/2022. Hiện nay Bị cáo Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm chưa có bồi thường gì.
Trước Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với các tài liệu điều tra thu thập được.
Tại bản Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 16/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn đã quyết định truy tố bị cáo Bùi Văn Thiệu về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị cáo Quách Văn Lâm về tội: "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của người bị hại và các bị cáo thỏa thuận với nhau về mức bồi thường và trách nhiệm bồi thường của các bị cáo. Theo đó, các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty TTHH Mỹ Phong số tiền 9.189.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng). Phần mỗi bị cáo phải bồi thường bằng nhau là 9.189.000đ : 2 = 4.594.500đ.
Kết thúc phần xét hỏi vị đại diện Viện Kiểm sát công bố bản luận tội. Nội dung bản luận tội đã phân tích tính chất, mức độ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo và khẳng định Cáo trạng truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt Bùi Văn Thiệu từ 27 đến 30 tháng tù; Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS xử phạt Quách Văn Lâm từ 06 đến 09 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với các bị cáo do không có tính khả thi.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587; 589 Bộ luật Dân sự, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa đại diện theo ủy quyền của người bị hại và các bị cáo. Theo đó, các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty TTHH Mỹ Phong số tiền 9.189.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng). Phần mỗi bị cáo phải bồi thường bằng nhau là 9.189.000đ : 2 = 4.594.500đ.
Các biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự truy thu số tiền 1.485.000đ là số tiền các bị cáo bán tài sản trộm cắp mà có. Cụ thể: Truy thu bị cáo Quách Văn Lâm 335.000đ; Truy thu bị cáo Bùi Văn Thiệu 335.000đ + 815.000đ = 1.150.000đ.
Đối với người đàn ông và người phụ nữ đã mua tài sản do trộm cắp được mà có của Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xử lý khi có đủ căn cứ.
Về việc Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm khai nhận đã sử dụng số tiền do trộm cắp tài sản có được để đi mua và sử dụng chất ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, rà soát trên địa bàn các địa điểm mua ma túy mà các bị cáo đã khai báo. Đồng thời, Cơ quan quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định truy tìm đối tượng. Tuy nhiên, không xác định được địa điểm và đối tượng mà các bị cáo đã khai báo nên đề nghị HĐXX không đề cập xử lý.
Người bào chữa cho bị cáo Quách Văn Lâm thống nhất về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị xử phạt bị cáo 06 tháng tù. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế khó khăn, bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú và giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, trình độ học vấn thấp, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên khi quyết định hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Về phần dân sự: người bào chữa cho bị cáo đồng ý theo đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.
Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng, nội dung bản luận tội của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan. Các bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát. Tại lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạc Sơn, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Ngày 11/8/2022, Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm do không có tiền tiêu sài cá nhân nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản tại khu vực Bãi cống của Công ty TNHH Mỹ Phong thuộc phố Độc Lập, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Lần đầu, Quách Văn Lâm ở tại khu vực Công viên Vụ Bản để đợi Bùi Văn Thiệu. Bùi Văn Thiệu đã có hành vi lén lút lấy trộm từ Bãi cống của Công ty TNHH Mỹ Phong các tấm thép phi 10 hàn dạng vỉ tổng trọng lượng là 27 kg có giá trị là 189.000đ (một trăm tám chín nghìn đồng). Sau đó Thiệu quay lại chỗ Lâm và cả hai cùng đi bán lấy tiền. Tiếp ngay sau đó Bùi Văn Thiệu bảo Quách Văn Lâm cảnh giới ở khu vực cổng phố Mường Vôi, thị trấn Vụ Bản dể Thiệu tiếp tục trộm cắp tài sản. Tại khu vực Bãi cống của Công ty TNHH Mỹ Phong, Bùi Văn Thiệu lén lút lấy trộm được 02 (hai) Máy hàn điện tử nhãn hiệu OSHIMA màu đen kèm theo dây cáp hàn theo máy có tổng giá trị là 9.000.000đ (chín triệu đồng). Sau khi lấy được tài sản cả hai cùng nhau đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là: 9.189.000đ (chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng). Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên hành vi của Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo: hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, không những gây thiệt hại về tài sản mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy các bị cáo phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về hậu quả do hành vi của mình gây ra.
. Về nhân thân:
Bị cáo Quách Văn Lâm trước khi phạm tội không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xẩu, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy.
Bị cáo Bùi Văn Thiệu không có tiền sự; Tiền án: 02 tiền án, Ngày 23/5/2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ngày 08/11/2018 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương. Đến ngày 31/5/2020, chưa được xóa án tích đã tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, ngày 06/4/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
. Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, sinh ra và lớn lên làm ăn tại địa phương, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo không chịu tu dưỡng đạo đức, rèn luyện bản thân, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân nên đã bất chấp pháp luật, đi vào con đường phạm tội. Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo thể hiện sự hối hận về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặt biệt khó khăn, các bị cáo ra đầu thú. Riêng bị cáo Quách Văn Lâm phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo Bùi Văn Thiệu được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo Quách Văn Lâm được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.
. Hành vi phạm tội của các bị cáo là đồng phạm mang tính chất giản đơn, giữa các bị cáo có sự bàn bạc nhưng không phân công, phân nhiệm vai trò cụ thể nên không thỏa mãn dấu hiệu của tội phạm có tổ chức.
. Về mức hình phạt: HĐXX xét thấy bị cáo Quách Văn Lâm, bị cáo Bùi Văn Thiệu có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng một hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để dăn đe giáo dục đối với các bị cáo.Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Về quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Quách Văn Lâm HĐXX cân nhắc trong quá trình lượng hình.
. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
. Trong vụ án này, người đàn ông và người phụ nữ đã mua tài sản do trộm cắp được mà có của Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm, quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, cần tiếp tục giao Cơ quan điều tra xử lý khi có đủ căn cứ.
Về việc Bùi Văn Thiệu và Quách Văn Lâm khai nhận đã sử dụng số tiền do trộm cắp tài sản có được để đi mua và sử dụng chất ma túy. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, rà soát trên địa bàn các địa điểm mua ma túy mà các bị cáo đã khai báo. Đồng thời, Cơ quan quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định truy tìm đối tượng. Tuy nhiên, không xác định được địa điểm và đối tượng mà các bị cáo đã khai báo nên HĐXX không đề cập xử lý.
. Về trách nhiệm dân sự:
Các bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của người bị hại thỏa thuận với nhau về việc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho Công ty TTHH Mỹ Phong số tiền 9.189.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi chín nghìn đồng); Phần mỗi bị cáo phải bồi thường bằng nhau là 9.189.000đ : 2 = 4.594.500đ. Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội nên HĐXX chấp nhận.
. Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô, biển kiểm soát 28G1-307.83, nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE @, màu sơn xanh – đen. Xe cũ đã qua sử dụng, xe bị vỡ phần cánh yếm bên trái, phần máy móc không kiểm tra. Quá trình điều tra xác định là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của chị Bùi Thị Thiết. Việc Lâm và Thiệu thực hiện hành vi phạm tội chị Thiết không biết và không liên quan, do vậy Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu. Sau khi nhận lại tài sản, chị Thiết không có ý kiến gì và việc xử lý vật chứng nêu trên của cơ quan điều tra đúng quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
. Các biện pháp tư pháp:
Về số tiền 285.000đ các bị cáo bán các thanh sắt và số tiền 1.200.000đ các bị cáo bán máy hàn điện: Đây là tiền các bị cáo bán tài sản trộm cắp mà có nên cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước. Trong đó: số tiền 70.000 đ bị cáo Bùi Văn Thiệu đưa cho bị cáo Quách Văn Lâm để đổ xăng và số tiền 600.000đ bị cáo Bùi Văn Thiệu mua ma túy là số tiền các bị cáo cùng sử dụng nên cần truy thu mỗi bị cáo (70.000đ + 600.000đ) : 2 = 335.000đ; Số tiền còn lại là 815.000đ bị cáo Bùi Văn Thiệu giữ tiêu sài riêng nên cần truy thu bị cáo Bùi Văn Thiệu khoản tiền này. Cụ thể: Truy thu bị cáo Quách Văn Lâm 335.000đ; Truy thu bị cáo Bùi Văn Thiệu 335.000đ + 815.000đ = 1.150.000đ.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
. Các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Thiệu và bị cáo Quách Văn Lâm phạm tội “Trộm cắp tài sản”
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Bùi Văn Thiệu 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 08/11/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 BLHS xử phạt Quách Văn Lâm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 23/11/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về dân sự:
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 587; 589 Bộ luật Dân sự, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự: Công nhận sự thỏa thuận tại phiên tòa giữa bị cáo Bùi Văn Thiệu, bị cáo Quách Văn Lâm và đại diện theo ủy quyền của người bị hại. Cụ thể: Bị cáo Bùi Văn Thiệu bồi thường số tiền 4.594.500 đ (Bốn triệu năm trăm chín mươi tư nghìn năm trăm đồng) cho Công ty TNHH Mỹ Phong; Bị cáo Quách Văn Lâm bồi thường số tiền 4.594.500 đ (Bốn triệu năm trăm chín mươi tư nghìn năm trăm đồng) cho Công ty TNHH Mỹ Phong.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án số tiền nêu trên người phải thi hành án không trả được, thì hàng tháng còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
4. Các biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 Truy thu bị cáo Bùi Văn Thiệu số tiền 1.150.000 (Một triệu một trăm năm mươi nghìn) đồng, bị cáo Quách Văn Lâm số tiền 335.000 (Ba trăm ba mươi lăm nghìn) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.
5. Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Bùi Văn Thiệu, Quách Văn Lâm mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 229.725đ ( Hai trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự. Tổng cộng mỗi bị cáo phải chịu 429.725đ (Bốn trăm hai mươi chín nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng) án phí.
6. Quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - Công an huyện Lạc Sơn; - Chi cục thi hành án huyện Lạc Sơn; - Sở tư pháp; -UBND xã Yên Phú; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ + án văn. khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án”. Các quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự đều không quy định “trừ trường hợp được miễn, giảm án phí hình sự”. Ngoài ra, khi quy định về án phí hình sự (hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm) thì Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quy định các trường hợp phải chịu án phí hình sự phúc thẩm mà không quy định “trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, hình sự phúc thẩm”. Như vậy, đối với án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm thì người bị kết án không được miễn, kể cả khi có đơn đề nghị và thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 (Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ). THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA 1. Bùi Văn Ơn 2. Bùi Văn Thiệu khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định “Án phí do người bị kết án hoặc Nhà nước chịu theo quy định của pháp luật. Người bị kết án phải trả án phí theo quyết định của Tòa án. Mức án phí và căn cứ áp dụng được ghi rõ trong bản án, quyết định của Tòa án”. Các quy định khác của Bộ luật tố tụng hình sự đều không quy định “trừ trường hợp được miễn, giảm án phí hình sự”. Ngoài ra, khi quy định về án phí hình sự (hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm) thì Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và quy định các trường hợp phải chịu án phí hình sự phúc thẩm mà không quy định “trừ trường hợp được miễn hoặc không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, hình sự phúc thẩm”. Như vậy, đối với án phí hình sự sơ thẩm và hình sự phúc thẩm thì người bị kết án không được miễn, kể cả khi có đơn đề nghị và thuộc trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 (Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ). | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoa Nguyễn Thị Thanh Hoa |