- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Trần Khắc T phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 11- 01 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KINH MÔN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chí Dựng và ông Hoàng Văn Ngọc.
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thăng Long - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Nên - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 117/2022/TLST- HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2022/QĐXXST - HS ngày 23 tháng 12 năm 2022, Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 01/TB-TA ngày 03/01/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Khắc T, sinh năm 1978 tại: Thị xã K, tỉnh Hải Dương; tên gọi khác: Không; nơi ĐKHKTT: Khu dân cư (KDC) B, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; con ông Trần Khắc N (đã chết) và bà Vũ Thanh T; tiền án: Có 01 tiền án: Tại bản án số 49/2021/HS-ST ngày 02/7/2021, Tòa án nhân dân (TAND) thị xã Kinh Môn xử phạt T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02/12/2021, T chấp hành xong án phạt tù; tiền sự: Ngày 28/01/2021 có hành vi trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.125.000 đồng) bị Công an thị xã Kinh Môn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-XPHC ngày 24/02/2021 với hình thức: Phạt tiền, mức phạt: 1.500.000 đồng, bị cáo chưa nộp phạt; nhân thân: Tại bản án số 10/ST ngày 16/4/2002, TAND huyện Kinh Môn (Nay là thị xã Kinh Môn) xử phạt T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 01/10/2002, T chấp hành xong án phạt tù. Ngày 17/6/2011, chấp hành xong khoản án phí hình sự sơ thẩm. Đối với khoản bồi thường cho chị Nguyễn Thị D số tiền 117.000 đồng, T chưa bồi thường, chị D không có đơn yêu cầu thi hành án; tại bản án số 16/2005/HSST ngày 29/7/2005, TAND huyện Kinh Môn, xử phạt T 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 06/8/2006, T chấp hành xong án phạt tù. Ngày 17/6/2011, chấp hành xong phần án phí hình sự sơ thẩm; tại bản án số 32/2012/HSST ngày 31/5/2012, TAND huyện Kinh Môn xử phạt T 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 02/6/2013, T chấp hành xong án phạt tù. Ngày 23/11/2012, chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2022, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo T: Bà Lê Thị Thu H - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương - Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Anh Trần Đức A; sinh năm 2002; địa chỉ: KDC K, phường D, thị xã K, tỉnh Hải Dương - Vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi liên quan: Bà Vũ Thanh T; sinh năm 1959; địa chỉ: KDC B, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương- Có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H - Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, Trần Khắc T điều khiển xe đạp điện (xe T mượn của mẹ là bà Vũ Thanh T; sinh năm 1957; trú tại: KDC B, phường M, thị xã K) đi đến phường D, thị xã K mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 09 giờ cùng ngày, khi đi đến KDC K, phường D, thị xã K, T quan sát thấy ở bên đường có 01 khu vườn có ao cá và cây ăn quả không có người quản lý của anh Trần Đức A; sinh năm 2002; trú tại: KDC K, phường D, thị xã K, T dựng xe đạp điện trước cổng khu vườn, rồi trèo qua tường bao vào bên trong. T thấy có 02 máy bơm nước, trong đó 01 chiếc ở khu vực rìa bờ ao và 01 chiếc ở khu vực mương nước trong vườn. T dùng tay bẻ đường ống nước bằng nhựa lắp trên máy, cầm 02 máy bơm nước trèo tường ra ngoài. T để 02 chiếc máy bơm nước lên xe đạp điện và điều khiển xe đi. Khi vừa đi được một đoạn thì T bị Công an phường D phát hiện, kiểm tra và tiến hành lập biên bản, thu giữ xe đạp điện và 02 chiếc máy bơm (trong đó: 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu Bengwang màu xanh, công suất 750W và 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu BaoLong màu xanh).
Tại kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự số 50/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND thị xã Kinh Môn kết luận: Giá trị còn lại của 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu Bengwang màu xanh, công suất 750W, mua mới và đưa vào sử dụng từ tháng 3/2021 có giá trị còn lại là 737.917 đồng; giá trị còn lại của 01 chiếc máy bơm nước nhãn hiệu BaoLong màu xanh, công suất 750W, mua mới và đưa vào sử dụng từ tháng 3/2021 có giá trị còn lại là 737.917 đồng.
Tại Cáo trạng số 108/CT-VKS ngày 30/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố Trần Khắc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Trần Khắc T thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, nay đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh gia đình, kinh tế, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T; đề nghị xử phạt bị cáo T 08 tháng tù.
Người có quyền lợi liên quan bà Vũ Thanh T đề nghị HĐXX trả lại cho bà chiếc xe đạp điện mà bị cáo T đã mượn của bà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn giữ nguyên quan điểm truy tố theo bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Khắc T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Xử phạt Trần Khắc T từ 08 đến 11 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 28/10/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về vật chứng: Trả lại cho bà Vũ Thanh T chiếc xe đạp điện màu đỏ - đen, không biển số, số máy JN48B-1507996XXX.
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của Trần Khắc T tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng, vật chứng đã thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 09 giờ ngày 28/10/2022 tại khu dân cư K, phường D, thị xã K, tỉnh Hải Dương, Trần Khắc T (có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xoá án tích; 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản) đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc máy bơm nước của anh Trần Đức A có tổng giá trị là 1.475.834 đồng. Hành vi nêu trên của Trần Khắc T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bởi lẽ:
Hành vi của Trần Khắc T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân - Một khách thể mà Bộ luật Hình sự đã quy định và bảo vệ. Bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích và có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng với động cơ tư lợi, muốn chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng không do bản thân lao động chính đáng mà có, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở trong việc bảo vệ tài sản của chủ sở hữu, lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại có giá trị là 1.475.834 đồng làm mất trật tự, trị an trên địa bàn. Bị cáo thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý, mặc dù đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kinh Môn, tỉnh Hải Dương đã truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Với hành vi của mình, bị cáo T phải chịu một hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Để hình phạt đó không chỉ là sự trừng trị của pháp luật đối với người phạm tội mà còn là bài học để dăn đe, giáo dục chung trong cộng đồng.
Xem xét, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng:
Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, 01 lần bị xử phạt hành chính đã được giáo dục cải tạo nhưng không cải sửa nay lại phạm tội.
Xét cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất hành vi mà bị cáo đã thực hiện để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét tính chất, mức độ của hành vi, hoàn cảnh kinh tế của bị cáo thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị hại anh Trần Đức A 02 chiếc máy bơm. Anh Đức A đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì thêm do vậy không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu giữ 01 xe máy điện màu đỏ - đen, trên xe có chữ 133S, không biển số, số máy JN48B-1507996XXX của bà Vũ Thanh T là mẹ đẻ bị cáo T. Đây là chiếc xe bị cáo T đã sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, bà T cho T mượn xe nhưng không biết T dùng làm phương tiện phạm tội do vậy cần trả lại chiếc xe trên cho bà T.
Về án phí: Bị cáo Trần Khắc T bị kết án nhưng là người thuộc hộ nghèo nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Trần Khắc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Khắc T 08 (Tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/10/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bà Vũ Thanh T; sinh năm 1959; địa chỉ: Khu dân cư B, phường M, thị xã K, tỉnh Hải Dương 01 xe máy điện màu đỏ - đen, trên xe có chữ 133S, không biển số, số máy JN48B-1507996XXX, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong xe (Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/12/2022 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kinh Môn).
Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Khắc T.
Báo bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi liên quan; - Người bào chữa; - VKSND thị xã Kinh Môn; - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Cơ quan điều tra Công an thị xã Kinh Môn; - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an thị xã Kinh Môn; - Cơ quan THA hình sự Công an thị xã Kinh Môn; - Chi cục THADS thị xã Kinh Môn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyết |