- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án Hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Trần Thị Trúc P bị xét xử về tội "Vô ý làm chết người" - phạm tội vô ý làm chết người (điều 128 Luật sử…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc P 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vô ý làm chết người”. Thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 128 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH TỈNH KHÁNH HÒA ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 20 - 6 -2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHÁNH VĨNH, TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Cường
Ông Ngô Xuân Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hồng Diên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Thoa - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Thị Trúc P, sinh năm 1984 tại tỉnh Khánh Hòa
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T 4, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần L (đã chết) và bà Nguyễn Thị Ngọc T; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Ông Đào Văn Đ, sinh năm 1985 (đã chết).
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1985
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Đ có mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Bà N vắng mặt tại phiên tòa.
- Cháu Đào Nguyễn Hải Đ, sinh ngày 02/12/2011
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
- Cháu Đào Nguyễn Ngọc S, sinh ngày 25/7/2019
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Người giám hộ cho các cháu Đào Nguyễn Hải Đ và Đào Nguyễn Ngọc S là bà Nguyễn Thị Đ – mẹ đẻ; Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Đ có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công viên du lịch Y
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Đại diện theo pháp luật: Ông Võ Khôi M – Giám đốc.
Ông M có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969
Địa chỉ: Thôn C, xã D, huyện D, tỉnh Khánh Hòa.
Ông T vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nông Văn V, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn A X, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ông V có mặt tại phiên tòa.
- Ông Trương Thanh H, sinh năm 1977
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ông H vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trương Thanh H1, sinh năm 1975
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ông H1 vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Trương Văn C, sinh năm 1998
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ông C vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Đào Văn Đ, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa.
Ông Đ có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Thị Trúc P là người thuê mặt bằng của Công viên du lịch Y đóng trên địa bàn thôn N, xã K, huyện K, tỉnh Khánh Hòa theo hợp đồng số 01/HĐYB.2022 thời hạn hợp đồng từ ngày 01/01/2022 đến ngày 31/12/2022. Theo nội dung hợp đồng, P được quyền kinh doanh dịch vụ xe ngựa vận chuyển hành khách, chụp hình lưu niệm với ngựa theo các tuyến đường, vị trí nuôi nhốt ngựa đã được Công viên du lịch Y quy hoạch và phải trả cho Công viên du lịch Y 5.000.000 đồng/tháng. Đàn ngựa của P có 10 con được nuôi và chăm sóc theo hình thức chăn thả tự do trong Công viên du lịch Y.
Khoảng 17 giờ ngày 26/9/2022, sau khi đi kiểm tra và xác định không còn du khách tham quan trong Công viên du lịch Y, Trần Thị Trúc P đã cột một sợi dây thừng có chiều dài 1.270cm, bên trên sợi dây có cột các miếng vải xen lẫn màu xanh, đỏ, ở giữa sợi dây có một miếng gỗ dạng bán nguyệt có bán kính là 19cm giăng ngang đường nội bộ tại vị trí cầu dẫn từ khu dịch vụ tắm bùn sang khu chăn nuôi cá sấu trong khuôn viên Công viên du lịch Y, hai đầu sợi dây được cột vào 2 lan can cầu với mục đích để ngăn chặn đàn ngựa do Phương nuôi đi lạc, quậy phá làm hư hỏng tài sản của Công viên du lịch Y.
Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, ông Đào Văn Đ – là nhân viên Công viên du lịch Y điều khiển xe mô tô BKS 79X1 - 020.21, nhãn hiệu YAMAHA, chủng loại Sirius, màu sắc: trắng – đen đi vào Công viên du lịch Y. Khi Đ đi qua cổng thì bảo vệ trực cổng là ông Nông Văn V đang đi kiểm tra chốt gần đó không kịp yêu cầu Đ dừng xe nên đã gọi theo hỏi Đ đi đâu, Đ chỉ nói vọng lại “tôi đi lấy mấy cái bao về chống bão” rồi điều khiển mô tô đi vào hướng khu dịch vụ tắm bùn.
Khi Đ điều khiển xe mô tô BKS 79X1 - 020.21 đến vị trí cầu bê tông dẫn từ khu dịch vụ tắm bùn sang khu chăn nuôi cá sấu trong khuôn viên Công viên du lịch Y thì bị vướng vào sợi dây thừng do P cột chắn ngang đường trước đó khiến Đ ngã xuống. Đến khoảng 17 giờ 40 phút, nhân viên bảo vệ Nông Văn V đi tuần thì phát hiện Đ đang nằm trên cầu, bên cạnh là xe mô tô BKS 79X1-020.21, ông V đã gọi một số người dân đưa Đ đi cấp cứu tuy nhiên vì bị thương nặng nên Đ đã tử vong trước khi được đưa vào trung tâm y tế huyện Khánh Vĩnh.
Sau khi Đ được đưa đi cấp cứu, ông V cho rằng sợi dây thừng là do P cột để ngăn đàn ngựa đi lạc nên đã thông báo cho P biết. Lo sợ sợi dây thừng có thể gây nguy hiểm, tai nạn cho những người khác nên P tháo dây thừng ra khỏi vị trí cột và đưa về phòng, lúc này mối cột bên phải - theo hướng từ khu chăn nuôi cá sấu sang khu dịch vụ tắm bùn đã bị bung ra do va chạm với Đ. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh tiến hành khám nghiệm hiện trường thì P đã tự nguyện đem sợi dây thừng đến giao nộp và khai nhận toàn bộ hành vi của mình.
Ngày 26/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh có Quyết định trưng cầu giám định số 32a/QĐ-ĐTTH về việc giám định nguyên nhân tử vong, nồng độ cồn trong máu của ông Đào Văn Đ gửi Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 27/9/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có kết luận giám định độc chất số 37/ĐC- TTPY kết luận:
“Mẫu máu Đào Văn Đ: Không phát hiện Ethanol”.
Ngày 04/10/2022, Trung tâm pháp y tỉnh Khánh Hòa có bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 451/TT-TTPY kết luận:
“Nguyên nhân tử vong của Đào Văn Đ, sinh năm 1985: ĐA CHẤN THƢƠNG”.
Trong quá trình điều tra, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã hỗ trợ bồi thường một phần thiệt hại tổn thất tinh thần cho đại diện hợp pháp của bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh thu giữ được:
- Xe mô tô BKS 79X1- 020.21 (Nhãn hiệu: YAMAHA; Chủng loại: Sirius; Màu sắc: Trắng – đen, hiện đã trả cho bà Nguyễn Thị Đ, là vợ của ông Đào Văn Đ.
- 01 sợi dây có đặc điểm: Tổng chiều dài 1.270cm; gồm 02 phần dây nối liền với nhau: Dây dù màu xanh lá cây có kích thước (1,5 x 0,5 x 240)cm và dây thừng tròn màu trắng có đường kính 01cm, dài 1.030cm; bên trên sợi dây có cột các miếng vải xen lẫn màu xanh, màu đỏ, ở giữa sợi dây có một miếng gỗ dạng bán nguyệt có bán kính là 19cm. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSKV ngày 24/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Trần Thị Trúc P về tội “Vô ý làm chết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trần Thị Trúc P về tội “Vô ý làm chết người” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo P mức án từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên không xét.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tiêu hủy: 01 sợi dây có đặc điểm: Tổng chiều dài 1.270cm; gồm 02 phần dây nối liền với nhau: Dây dù màu xanh lá cây có kích thước (1,5 x 0,5 x 240)cm và dây thừng tròn màu trắng có đường kính 01cm, dài 1.030cm; bên trên sợi dây có cột các miếng vải xen lẫn màu xanh, màu đỏ, ở giữa sợi dây có một miếng gỗ dạng bán nguyệt có bán kính là 19cm. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh.
Bị cáo Trần Thị Trúc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Trúc P khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố và bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh nên không có ý kiến tranh luận gì thêm và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại bà Nguyễn Thị N, người làm chứng ông Nguyễn Văn T, ông Trương Thanh H, ông Trương Thanh H1, ông Trương Văn C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của người này không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo. HĐXX căn cứ vào Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt đại diện hợp pháp của bị hại và người làm chứng.
2 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị Trúc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác đã được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khánh Vĩnh đã truy tố. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Trần Thị Trúc P đã phạm tội “Vô ý làm chết người”, phần tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được việc dùng dây tự giăng ngang qua đường sẽ có thể gây nguy hiểm cho người qua lại. Nhưng do bất cẩn và chủ quan nghĩ rằng trong hoàn cảnh hiện tại (đã hết giờ làm, hết khách tham quan, thời tiết đang chuẩn bị mưa bão…) không còn người qua lại nên đã tự ý giăng dây để quản lý đàn ngựa của mình mà không lường được hậu quả có thể xảy ra. Hậu quả khi ông Đào Văn Đ chạy xe vào khu vực Công viên du lịch tìm bao tải về phục vụ cho việc chống bão đã vướng vào sợi dây do P giăng ngang giữa đường làm ông ngã xe bị thương và chết do đa chấn thương. HĐXX xét thấy hành vi của bị cáo cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
Xét hoàn cảnh, điều kiện phạm tội: Thời điểm ngày 26/9/2022 theo thông tin từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia, cơn bão số 4 (có tên gọi là bão Noru) sẽ đổ bộ vào tỉnh Khánh Hòa. P lo sợ thời tiết mưa kèm theo gió, sấm sét sẽ làm đàn ngựa bị hoảng loạn, bỏ chạy hoặc gây hư hỏng đến tài sản của Công viên Y. Bị cáo đã dùng dây thừng giăng ngang đường để ngăn chặn. Trước khi cột dây, P đã kiểm tra thấy không còn du khách tham quan, đồng thời theo Nội quy lao động của Công viên du lịch Y thì thời gian làm việc của các nhân viên bắt đầu từ 07 giờ 30 phút đến 17 giờ cùng ngày, ngoài giờ làm việc và các ngày nghỉ thì nhân viên không được ra vào Công viên nếu không có sự đồng ý hoặc điều động của cấp trên. Với ý thức chủ quan, trong hoàn cảnh điều kiện thời tiết sắp có bão mạnh cùng với nội quy công ty như trên, Phương tin rằng việc giăng dây qua đường nội bộ sau khoảng thời gian 17 giờ ngày 26/9/2022 sẽ không gây ra hậu quả gì. Từ suy nghĩ chủ quan P đã giăng dây ngang qua đường nội bộ, hậu quả khi ông Đ chạy xe qua đã vướng vào bị ngã đa chấn thương dẫn đến tử vong.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp người bị hại, được đại diện hợp pháp bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Mặt khác, trong vụ việc này, phía bị hại ông Đào Văn Đ cũng có phần lỗi. Ông là nhân viên của Công viên du lịch Y biết rõ nội quy, quy định của đơn vị về việc những người không phận sự khi đã hết ca làm việc hoặc không trong thời gian tham gia ca làm việc thì không được tự ý đi vào khuôn viên của Công viên. Nhưng ông Đ đã tự ý đi vào khi chưa có sự cho phép của cấp trên, quá trình di chuyển xe vào trong do thiếu quan sát nên không phát hiện ra sợi dây thừng do P đang giăng ngang đường để quản lý đàn ngựa nên đã va vào dẫn tới ngã xe bị đa chấn thương và tử vong sau đó. Đây là những tình tiết giảm nhẹ khi áp dụng hình phạt cho bị cáo. Do đó, đối với bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS khi xem xét quyết định hình phạt. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, do đó không cần cách ly bị cáo ra ngoài xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục nên áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Về bồi thường dân sự: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp bị hại xác nhận đã nhận bồi thường hỗ trợ từ bị cáo, không yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tiêu hủy: 01 sợi dây có đặc điểm: Tổng chiều dài 1.270cm; gồm 02 phần dây nối liền với nhau: Dây dù màu xanh lá cây có kích thước (1,5 x 0,5 x 240)cm và dây thừng tròn màu trắng có đường kính 01cm, dài 1.030cm; bên trên sợi dây có cột các miếng vải xen lẫn màu xanh, màu đỏ, ở giữa sợi dây có một miếng gỗ dạng bán nguyệt có bán kính là 19cm. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh.
Về án phí: Bị cáo Trần Thị Trúc P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Trần Thị Trúc P.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Trúc P 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vô ý làm chết người”. Thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Thị Trúc P cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện D giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật hình sự:
- Tiêu hủy: 01 sợi dây có đặc điểm: Tổng chiều dài 1.270cm; gồm 02 phần dây nối liền với nhau: Dây dù màu xanh lá cây có kích thước (1,5 x 0,5 x 240)cm và dây thừng tròn màu trắng có đường kính 01cm, dài 1.030cm; bên trên sợi dây có cột các miếng vải xen lẫn màu xanh, màu đỏ, ở giữa sợi dây có một miếng gỗ dạng bán nguyệt có bán kính là 19cm. Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/6/2023 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Khánh Vĩnh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Khánh Vĩnh.
* Về án phí: Buộc bị cáo Trần Thị Trúc P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Thị Trúc P, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND huyện Khánh Vĩnh; - Cơ quan cảnh sát điều tra, Cơ quan THA hình sự Công an huyện Khánh Vĩnh; - Chi cục THADS huyện Khánh Vĩnh; - Sở Tƣ pháp Khánh Hòa; - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp bị hại; - Ngƣời tham gia tố tụng; - Lƣu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |