- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Ngô Phi L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày: 13/01/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh Đa.
Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hứa Văn Khương.
2. Bà Tăng Thị Bạch Vân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào – Kiểm sát viên
Trong ngày 13/01/2023, tại điểm cầu trung tâm - Phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách và tại điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ Công an huyện Kế Sách, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến đối với vụ án hình sự sơ thẩm thẩm thụ lý số 44/2022/TLST-HS, ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2022/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2022, Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 259/TB-TA ngày 26/12/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Phi L, sinh ngày: 01/01/1989; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: huyện Kế Sách; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Họ và tên cha: Ngô Phước H, sinh năm 1955 (chết); Họ và tên mẹ: Phạm Thị N, sinh năm 1955, ngụ cùng địa chỉ với bị cáo; Anh, chị, em ruột: 06 người, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án: Không. Tiền sự: Không. Bị cáo Phi L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/9/2022 cho đến nay.
(bị cáo Phi L có mặt tại điểm cầu thành phần)
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lương Thị Ngọc H– Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị hại: Ông Trần Hải T, sinh năm 1983 ( vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Địa chỉ: ấp A1, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
Ông Trần Quốc T1, sinh năm 1960 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Địa chỉ: ấp A1, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Ông Lý Trung D, sinh năm 1984 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Địa chỉ: ấp P, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Ông Lào D, sinh năm 1977 (vắng mặt tại điểm cầu trung tâm).
Địa chỉ: ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
- Những người tham gia tố tụng khác:
+ Có mặt tại điểm cầu trung tâm gồm:
Lực lượng bảo vệ phiên tòa là cán bộ, chiến sỹ thuộc Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, gồm các đồng chí: Nguyễn Phi L, Lâm Văn H, Nguyễn Lâm Phú N và Tô Nguyễn Anh D.
+ Có mặt tại điểm cầu thành phần gồm:
Lực lượng bảo vệ phiên tòa là cán bộ, chiến sỹ thuộc Đội Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp Công an huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, gồm các đồng chí: Lý Bảo T, Sơn Ngọc V, Nguyễn Điền T, Dương Thị Thảo A, Phạm Trọng N, Kiêm Quốc K và Cao B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 30/7/2022, Ngô Phi L đi bộ từ xã P, huyện C, tỉnh Sóc Trăng về thị trấn K. Khoảng 08 giờ cùng ngày thì Phi L đi đến quán Z của ông Trần Hải T. Phi L đi vào quán Z thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen -xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX của ông T, dựng trong sân quán Z (xe có gắn chìa khóa sẵn, không có người trông coi). Phi L đi đến chỗ đậu xe rồi lên xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen -xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX dùng hai chân đẩy xe ra ngoài cổng rào. Khi ra khỏi cổng thì Phi L khởi động xe và điều khiển xe đi về hướng chợ Kế Sách, đến cầu Hải Ký thì Phi L chạy xe về nhà ở ấp An Ninh 2, thị trấn K huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng ngủ. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Phi L chạy xe lấy trộm được ra chợ Kđể tìm chỗ bán lấy tiền. Phi L ghé tiệm mua bán xe cũ của ông Lý Trung D ở chợ Kthuộc ấp A1, thị trấn K để bán nhưng do xe không có giấy chứng nhận đăng ký xe nên ông D không mua. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, ông Trần Hải T phát hiện mất xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX nên đến Công an thị trấn K trình báo sự việc. Đến khoảng 17 giờ ngày 30/7/2022, Phi L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX đi chợ K thì bị Công an thị trấn K mời về làm việc và tạm giữ xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen -xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Ngô Phi L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 30 ngày 05/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Kế Sách kết luận: 01 (một) mô tô nhân hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX, giá trị còn lại 20% thành tiền 5.400.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 50/CT-VKS-H.KS ngày 16 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách đã truy tố bị cáo Ngô Phi L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phi L như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Ngô Phi L từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kế Sách đã thu giữ và xử lý như sau: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen -xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX, xe đã qua sử dụng (Cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu là Trần Hải T).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Hải T đã nhận lại được tài sản xe mô tô 83C1-XXX.XX. Hiện nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Phi L đã khai nhận hành vi phạm tội như kết luận điều tra và cáo trạng truy tố.
Người bào chữa cho bị cáo là bà Lương Thị Ngọc H trình bày: Căn cứ lời khai của bị cáo Phi L tại phiên tòa thì bị cáo đã chấp nhận hành vi bị cáo bị truy tố. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân phạm tội của bị cáo: Bị cáo không biết chữ nên ý thức và nhận thức chưa có, thực hiện hành vi phạm tội trong tình trạng say xỉn. Người bào chữa thống nhất các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đè nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo tại ngoại để đi làm thuê và sửa đổi hành vi của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo do thuộc diện hộ nghèo.
Bị cáo không có ý kiến tranh tụng và nói lời sau cùng, các bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại ông Trần Hải T, người làm chứng: ông Trần Quốc T1, ông Lý Trung D, ông Lào D vắng mặt nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra. Xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có yêu cầu hoãn phiên tòa nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kế Sách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét lời khai của các bị cáo Ngô Phi L tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ nên có căn cứ để kết luận bị cáo Ngô Phi L đã có hành vi lợi dụng sự sơ hở của người bị hại, lén lút chiếm đoạt: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX. Giá trị tài sản mà bị cáo Phi L đã chiếm đoạt của bị hại có giá trị là: 5.400.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Phi L đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Tuy nhiên, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Tài sản các bị cáo trộm được đã thu hồi và trả lại cho bị hại nên được xem là chưa gây thiệt hại. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Ngoài ra, bị cáo có trình độ học vấn thấp. Do đó, bị cáo Phi L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 26/12/2013, bị cáo Phi L bị Ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng ra quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 18 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng.
Hội đồng xét xử thấy rằng, mặc dù bị cáo bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian đã lâu (09 năm) nhưng đối với những chính sách pháp luật tại địa phương hiện tại bị cáo vẫn chưa chấp hành tốt. Tại bút lục 101, chính quyền địa phương xác nhận là bị cáo Phi L thường xuyên nhậu say, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.
Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, đồng thời việc chấp hành pháp luật tại địa phương cũng chưa tốt nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt án treo đối với bị cáo.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách về việc định tội và định khung hình phạt đối với bị cáo Phi L, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo là hoàn toàn tương ứng với tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội là có căn cứ, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hoàn cảnh của các bị cáo, Hội đồng xét xử miễn hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng mà Công an huyện Kế Sách thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX, Cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu là Trần Hải T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại T không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phi L được miễn án phí do thuộc diện họ nghèo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Ngô Phi L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38, Điều 50; điểm h, i, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; phạt bị cáo Ngô Phi L 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện chấp hành án hoặc bị bắt thi hành án.
2. Về xử lý vật chứng: Vật chứng mà Công an huyện Kế Sách thu giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future màu đỏ - đen - xám, biển kiểm soát 83C1-XXX.XX, Cơ quan điều tra trả cho chủ sở hữu là ông Trần Hải T nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Phi L được miễn án phí hình sự sơ thẩm do thuộc diện hộ nghèo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a ,7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sóc Trăng; - VKSND tỉnh Sóc Trăng ; - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng; - VKSND huyện Kế Sách; - Công an huyện Kế Sách; - Chi cục THADS huyện Kế Sách; - Bị cáo; Bị hại; Người bào chữa; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Linh Đa |