vanban.org

Bản án 05/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 09/01/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Mai Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Mai Gia V 9(chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18(mười tám) tháng, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án 09 tháng 01 năm 2023. Giao bị cáo Vũ cho Ủy ban nhân dân phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ giám sát và giáo dục trong thời gian t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Mai Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HN
TỈNH BĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2023/HS-ST
Ngày 09-01-2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HN, TỈNH BĐ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Ngọc Tiến

Ông Võ Văn Phong

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chánh Thân - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 137/2022/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 129/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Mai Gia V, sinh ngày 19/02/2006 tại tỉnh BĐ; nơi cư trú: Khu phố CC, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T (sinh năm 1972) và bà Mai Thị V (sinh năm 1979); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/8/2022 cho đến ngày 20/10/2022, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Vợ chồng ông Huỳnh Văn T sinh năm 1972, bà Mai Thị V sinh năm 1979, cùng địa chỉ: Khu phố CC, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ (CM).

- Người bào chữa cho bị cáo: ông Hồ Văn Huy - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh BĐ(CM).

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1986(VM)

Địa chỉ: Khu phố LT2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

2. Ông Phan Thanh Q, sinh năm 1979(VM)

Địa chỉ: Khu phố LT2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

tỉnh Bình Định.

3. Ông Lê Văn T, sinh năm 1970(VM)

Địa chỉ: Khu phố LT2, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Vợ chồng ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969(VM)

bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1973(VM)

Địa chỉ: Khu phố TX, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

- Người làm chứng:

1. Anh Huỳnh Nguyễn N, sinh năm 2006(VM)

Địa chỉ: Khu phố MA1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại điện theo pháp luật của anh Nguyên là ông Huỳnh T, sinh năm 1979, địa chỉ: Khu phố MA1, phường HT, thị xã HN, tỉnh BĐ là cha của anh N

2. Anh Huỳnh R, sinh năm 2006(VM)

Địa chỉ: Khu phố CCN, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại điện theo pháp luật của anh R là bà Phan Thị Thanh Ty, sinh năm 1982, địa chỉ: Khu phố CCN, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ là mẹ của anh R.

3. Anh Nguyễn Trọng D, sinh năm 2006(VM)

Địa chỉ: Khu phố CCN, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại điện theo pháp luật của anh Duy là bà Võ Thị Bích Á, sinh năm 1976, địa chỉ: Khu phố CCN, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ là mẹ của anh D

4. Anh Trần Bình T, sinh năm 2006(VM)

Địa chỉ: Khu phố NAD, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

5. Anh Võ Trần Nhật Đ, sinh năm 2007(VM)

Địa chỉ: Khu phố TX, phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ.

Người đại điện theo pháp luật của anh Đ là Bà Trần Thị Thúy K, sinh năm 1980,

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do mong muốn nhanh có tiền để tiêu xài cá nhân, nên từ ngày 09 đến ngày 11/4/2022 Huỳnh Mai Gia V đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã HN, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/4/2022, Huỳnh Mai Gia V cùng với Huỳnh Nguyễn N, sinh ngày 04/8/2006; Võ Trần Nhật Đ, sinh ngày 27/6/2007; Huỳnh R, sinh ngày 01/10/2006, chơi bi da tại quán Tuấn Bin, ở khu phố TĐ, phường HH, thị xã HN. Đến 23 giờ, N điều khiển xe mô tô 77F2- 8982 (xe của ông Huỳnh T, cha của N) chở V; R điều khiển xe mô tô biển số 77N9-4915 (xe của bà Phan Thị Thanh T, mẹ của R) chở Đ đi dạo trên đường Võ Nguyên Giáp về hướng Bắc. Đến 00 giờ ngày 09/4/2022, cả nhóm đi đến tiệm sửa chữa máy ghe của ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1986, ở khu phố LT2, phường HT, V thấy có nhiều sắt để trước cổng nên nảy sinh ý định trộm đem đi bán nên rủ thì cả nhóm đồng ý. V và Nn khiêng 01 bánh trớn bằng sắt tròn, đường kính 40cm, dày 06cm, nặng 35,5kg để lên xe mô tô 77F2-8982 chở về ngôi nhà hoang gần nhà V để cất giấu. Sau đó, cả nhóm đến tiệm hàn của ông Phan Thanh Q, sinh năm 1979, ở khu phố LT2, phường HT trộm 01 ống sắt dài 37cm, đường kính 07cm, nặng 13kg; 01 ống sắt dài 120cm, dày 02cm, đường kính 09cm, nặng 32,4kg; 01 tấm sắt dài 72cm, dày 01cm, nặng 31,5kg; 01 tấm sắt dài 140cm, dày 01cm, nặng 46,5kg để trước cổng tiệm bỏ lên 02 xe mô tô chở về cất giấu tại nhà hoang. Khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, cả nhóm chở số sắt trên đến tiệm phế liệu của ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1969, ở khu phố TX, phường HH bán được số tiền 1.670.000 đồng, đã chia nhau tiêu xài hết.

Vụ 2: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/4/2022, sau khi đánh bi da tại quán Tuấn Bin, V rủ N, R, Trần Bình T; Nguyễn Trọng D, sinh ngày 05/5/2006, đến nhà ông Nguyễn Văn D và ông Phan Thanh Q trộm sắt thì cả nhóm đồng ý. Lúc 0 giờ ngày 10/4/2022, N điều khiển xe mô tô 77F2-8982 chở V; T điều khiển xe mô tô biển số 77F4-2488 (xe của ông Trần Văn T, cha của T) chở D, R đến trước cổng tiệm của ông D trộm 01 cục cạc đăng tròn, dài 28cm, bằng sắt, nặng 43,5kg để lên xe mô tô 77F2-8982 chở về cất dấu tại nhà hoang. Sau đó, cả nhóm đến tiệm hàn của ông Q lấy trộm 01 tấm sắt đa cạnh, dày 02cm, nặng 107kg để lên xe mô tô 77F2-8982 chở về nhà hoang cất giấu, rồi chở R về nhà R. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, V đến nhà ông D gõ cửa, nhờ ông D đến nhà hoang chở số sắt trên về tiệm phế liệu. Ông D gọi vợ là bà Nguyễn Thị B dậy cân sắt, trả cho cả nhóm số tiền 1.450.000 đồng. Vụ 3: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/4/2022, khi đang chơi tại quán bi da Tuấn Bin, V và N rủ D, R ra TQB lấy trộm sắt thì cả nhóm đồng ý. Lúc 23 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô 77F2-8982 chở V, R điều khiển xe mô tô 77N9-4915 chở chở D đi theo đường Võ Nguyên Giáp ra hướng TQB. Đến 0 giờ ngày 11/4/2022, cả nhóm đến trước tiệm sửa chữa máy ghe của ông Lê Văn T, sinh năm 1970, trộm 01 nữa bộ hộp số máy ghe bằng sắt đã qua sử dụng, hình khối nhỏ dần về phía sau có 01 đĩa hình tròn đường kính 21cm, bên trong có 02 bộ nhông, hộp số cao 52cm, dài 81cm, hai bên có gắn 02 tấm sắt hình chữ nhật, nặng 107kg, để lên xe mô tô 77N9-4915 chở về tiệm phế liệu của ông D. Bà B đưa cho V số tiền 1.000.000 đồng.

Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự thị xã HN đã kết luận: các tài sản V và các đối tượng trộm vào ngày 09/4/2022 có giá trị 3.832.500 đồng; tài sản trộm ngày 10/4/2022 có giá trị 3.474.500 đồng; tài sản trộm ngày 11/4/2022 có giá trị 5.000.000 đồng (theo Kết luận định giá tài sản số 35/HĐĐGTS ngày 04/5/2022 và số 41 ngày 13/5/2022) (BL số 29, 31, số 65 đến số 74).

Tại Bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 20/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ truy tố bị cáo Huỳnh Mai Gia V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Mai Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Mai Gia V từ 06 đến 09 tháng tù.

- Về vật chứng:

+ Tạm giữ: 01 bánh trớn bằng sắt tròn, đường kính 40cm, dày 06cm, nặng 35,5kg; 01 ống sắt dài 37cm, đường kính 07cm, nặng 13kg; 01 ống sắt dài 120cm, dày 02cm, đường kính 09cm, nặng 32,4kg; 01 tấm sắt dài 72cm, dày 01cm, nặng 31,5kg; 01 tấm sắt dài 140cm, dày 01cm, nặng 46,5kg; 01 cục cạc đăng tròn dài 28cm, bằng sắt, nặng 43,5kg; 01 tấm sắt đa cạnh, dày 02cm, nặng 107kg; 01 nửa bộ hộp số máy ghe bằng sắt đã qua sử dụng, hình khối nhỏ dần về phía sau có 01 đĩa hình tròn đường kính 21cm, bên trong có 02 bộ nhông, hộp số cao 52cm, dài 81cm, hai bên có gắn 02 tấm sắt hình chữ nhật, nặng 107kg, đã trả lại cho các chủ sở hữu.

+ Tạm giữ: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu đen, biển số 77N9-4915, số máy 16S1-066930, số khung 109Y-066917; xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 77F2-8982, số máy 0042880, số khung 042939; xe mô tô nhãn hiệu Honda, màu nâu, biển số 77F4-2488, số máy C100M-8141678, số khung C100ME-8141678, đã trả lại cho các chủ sở hữu.

- Về bồi thường thiệt hại: các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu gì khác; gia đình bị cáo Huỳnh Mai Gia V đã khắc phục trả lại số tiền 4.120.000 đồng cho bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn D, bà B ông D không có yêu gì khác.

Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Mai Gia V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên.

Người bào chữa cho bị cáo V trình bày luận cứ bào chữa thống nhất về tội danh như nội dung bản cáo trạng và lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa cho bị cáo V đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã HN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Mai Gia V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ ngày 09 đến ngày 11/4/2022 Huỳnh Mai Gia V đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 08/4/2022, bị cáo V cùng với Huỳnh Nguyễn N, Võ Trần Nhật Đ, Huỳnh R lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Văn D. Sau đó, cả nhóm tiếp tục lấy trộm tài sản của ông Phan Thanh Q, Đến sáng hôm sau cả nhóm bán được số tiền 1.670.000 đồng, chia nhau tiêu xài hết; Vụ thứ 2: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 09/4/2022, V cùng N, R, Trần Bình T, Nguyễn Trọng D, tiếp tục đến nhà ông Nguyễn Văn D và ông Phan Thanh Q trộm tài sản và bán được 1.450.000 đồng; Vụ thứ 3: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/4/2022, V và N rủ D, R lấy trộm tài sản của ông Lê Văn T và bán cho ông D, bà B được 1.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1, điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ truy tố bị cáo Huỳnh Mai Gia V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và gây thiệt hại tài sản cho người khác. Bị cáo là người nhận thức được hành vi của mình là không đúng pháp luật, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi, thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật, xem thường quy định của Nhà nước. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc của khung hình phạt mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm. Tuy nhiên, cũng cần xét đến yếu tố bị cáo là người chưa thành niên, sự phát triển và nhận thức pháp luật chưa đầy đủ, Hội đồng xét xử sẽ xem xét để đánh giá tính chất mức độ phạm tội của bị cáo.

Đối với các đối tượng Huỳnh Nguyễn N, Trần Bình T, Huỳnh R, Nguyễn Trọng D, Võ Trần Nhật Đ: Tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thì các đối tượng trên chưa đủ 16 tuổi. Do đó, hành vi của các đối tượng trên chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các đối tượng này đã bị cơ quan Công an thị xã HN xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 45 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên Tòa án không xem xét thêm.

Đối với các đối tượng ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị B: Quá trình điều tra vụ án, không đủ tài liệu chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị B nhận thức, biết rõ số sắt thu mua của Huỳnh Mai Gia V là do phạm tội mà có. Do đó, không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị B.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 03 lần theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đồng thời, trong quá trình điều tra, gia đình bị cáo đã chủ động khắc phục cho vợ chồng ông D, bà B số tiền 4.120.000 đồng. Mặc dù vợ chồng ông D bà B không phải là bị hại trong vụ án, nhưng trên thực tế là người bị thiệt hại về tài sản trong vụ án do hành vi vi phạm của bị cáo gây ra, do đó việc bị cáo đã khắc phục cho ông D bà B số tiền 4.120.000 đồng được xem là khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về quyết định hình phạt: Bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, bị cáo có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Bị cáo có nhận thân tốt, có nơi cư trú ổn định, bị cáo là người chưa thành niên, hiện nay còn đang đi học nghề. Gia cảnh bị cáo rất khó khăn, có sự xác nhận của chính quyền địa phương, gia đình bị cáo có ông bà là người có công với cách mạng, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, do bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phù hợp với quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và tính khoan hồng của pháp luật. Do đó, cho bị cáo Huỳnh Mai Gia V được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách để bị cáo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Về bồi thường thiệt hại: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu gì khác; gia đình bị cáo Huỳnh Mai Gia V đã trả lại số tiền 4.120.000 đồng, bà Nguyễn Thị B, ông Nguyễn Văn D không có yêu gì khác.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã HN, tỉnh BĐ đề nghị áp dụng pháp luật, mức mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật, tuy nhiên về hình phạt thì chưa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

Đề nghị của người bào chữa cho bị cáo phù hợp với diện biến tại phiên Tòa, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Cần buộc bị cáo Huỳnh Mai Gia V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65, 91 của Bộ luật Hình sự

Căn cứ vào Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; Nghị Quyết 02/2018 của HĐTP ngày 15/5/2018

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Mai Gia V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Mai Gia V 9(chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18(mười tám) tháng, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tuyên án 09 tháng 01 năm 2023.

Giao bị cáo Vũ cho Ủy ban nhân dân phường HH, thị xã HN, tỉnh BĐ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên miễn xét.

4. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không xét.

5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Mai Gia V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) sung vào ngân sách nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạng 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ