- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Ch phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 05/2023/HS-ST Ngày 27-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG - TỈNH LÀO CAI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Bích Phượng và ông Cư A Cớ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2023/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Ch (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 19 tháng 8 năm 1990 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHK: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi ở: Phường T, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Q tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D - Sinh năm: 1955, cư trú tại: Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và bà Đàm Thị T - Sinh năm: 1959, cư trú tại: Đồng X, Bình Phước; bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án số 89/2015/HSST ngày 30/10/2015 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Văn Ch 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", ngày 16/01/2017 Ch chấp hành xong hình phạt tù, tính đến thời điểm phạm tội chưa được xóa án tích theo quy định.
Tiền sự: Không;
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 49/2015/HSST ngày 30/6/2015 của Tòa án nhân dânTAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Văn Ch 07 tháng 16 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản", trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, Ch đã chấp hành xong toàn bộ bản án theo quy định.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 13/11/2022, tạm giam ngày 16/11/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai - Có mặt.
Bị hại: Công ty TNHH MTV Supe lân Apromaco Lào Cai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Vĩ - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thu Trang - Chức vụ: Trưởng phòng tổ chức hành Ch (Văn bản ủy quyền số 03 ngày 20/11/2022).
Địa chỉ: Tổ 7, phường Duyên Hải, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Nơi làm việc: Công ty TNHH MTV Supe lân Apromaco Lào Cai (Khu Công nghiệp Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai) - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do quen biết nên ngày 08/4/2018, Vũ Duy Đ cùng vợ chồng Vũ Đức Q từ Thái Bình lên nhà hàng Tuệ Lâm của vợ chồng Q để làm việc. Khoảng 16 giờ ngày 10/4/2018 Q dắt xe máy Yamaha Sirius BKS 18C1-062.64 ra khỏi nhà hàng mục đích đi quan sát để trộm cắp tài sản. Đ hỏi Q đi đâu và Q rủ Đ đi cùng. Sau đó Q điều khiển xe mô tô chở Đ đến khu vực Công ty TNHH MTV Supe lân Apromaco Lào Cai ở huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, Q rủ Đ trộm cắp tài sản của Công ty và Đ đồng ý. Tuy nhiên cả hai quay về thành phố Lào Cai, sau đó Q về Thái Bình và rủ Ch cùng trộm cắp tài sản. Khoảng 15 giờ ngày 16/4/2018, Q điện thoại cho Vũ Đức Lào là em ruột của Q, qua đó Q nói với Đ và dặn mua găng tay, khẩu trang chuẩn bị trộm cắp tài sản, Đ không nói cho Lào biết. Đ đã mua 02 đôi găng tay len và 02 khẩu trang, khoảng 17 giờ cùng ngày, Q và Ch đi xe khách từ Thái Bình lên Lào Cai, khi về gần nhà hàng ở phường Bắc Cường thì gặp Đ đang điều khiển xe mô tô. Q bảo Ch và Đ đợi, Q đi xe mô tô về số nhà 122 phường Bắc Cường lấy 02 xà cầy, 01 tua vít, quần áo cho vào 02 bao tải màu vàng. Sau đó Q giao cho Đ 01 điện thoại Nokia 3310 màu vàng trắng, số thuê bao 01285.126.981 và dặn Đ dùng để liên lạc trong quá trình trộm cắp tài sản. Q điều khiển xe mô tô chở Đ và Ch đi, khi đến khu vực Công ty Supe lân Apromaco Lào Cai, Q dừng xe bảo Đ ngồi ở dãy nhà trọ để trông xe và thấy có biến động gì thì gọi điện cho Q biết. Q và Ch thay quần áo, đeo găng tay, đội mũ bảo hiểm, cầm theo xà xầy, tua vít, bao tải trèo qua cổng sắt đi lên phòng kế toán - tài Ch ngồi ở cầu thang quan sát, nghe ngóng. Gần một giờ sau, Q lấy chiếc xà cầy cậy cửa gỗ và vào phòng, trong phòng có 01 két sắt Hòa Phát, Q và Ch lật ngửa két sắt ra, lấy một số giấy tờ kê bên dưới két, Ch lấy 01 chén nước đổ vào khóa két, cả hai dùng xà cầy cậy cánh cửa két nhưng không được. Q tìm được một chiếc xà beng và cả hai thay nhau cậy cửa két sắt, đến khi mở rộng được khoảng 10cm, sau đó lấy thanh kim loại ở giỏ hoa trong phòng bẻ thành hai đoạn để kéo bọc nilon và khều từng tờ tiền ra ngoài cho vào túi quần. Sau khi lấy được tiền, Q và Ch cầm xà cầy, tua vít đi ra, cả ba đi về thành phố Lào Cai, khi qua đập tràn xã Xuân Giao, huyện Bảo Thắng thì Ch vứt một xà cầy xuống suối. Đến khu vực trạm điện 220KW xã Gia Phú, huyện Bảo Thắng, Q lấy tiền đã trộm cắp ra đếm được khoảng hơn 100 triệu đồng, Q chia cho Ch 30.000.000 đồng, Đ 15.000.000 đồng, còn lại phần Q. Khi đến khu vực xã Cam Đường, thành phố Lào Cai, Q bảo Đ dấu 01 xà cầy và tua vít được quấn vào bao tải ở gốc cây ổi bên trái đường và cả ba đi về nhà Q. Sau đó Đ ở lại Lào Cai, Ch và Q về Thái Bình. Nguyễn Văn Ch đã bỏ trốn khỏi địa phương, Vũ Đức Q bị Công an tỉnh Thái Bình bắt về tội “Trộm cắp tài sản” tại địa bàn tỉnh Thái Bình. Đối với số tiền được chia thì Đ khai đã gửi Ch mang về cho gia đình 9.000.000 đồng, mua 01 điện thoại Sam sung Galaxy J7 Pro + bọc điện thoại và sim hết 5.090.000đ, số tiền còn lại Đ chi tiêu hết. Công ty TNHH MTV Supe Lân Apromaco Lào Cai đã có đơn đề nghị Công an giải quyết. Quá trính điều tra, Đ và Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Đ đã giao nộp 01 điện thoại Sam sung Galaxy J7 Pro, cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng có liên quan đến vụ án. Tài sản mà các bị cáo trộm cắp của Công ty TNHH MTV Supe Lân Apromaco Lào Cai là 100.487.500 đồng. Sau đó Q và Đ đã bị xét xử, Ch bỏ trốn khỏi địa phương và bị bắt theo quy định.
Tại Kết luận số 25/KL-HĐĐG ngày 19/7/2018 của Hội đồng định giá tố tụng hình sự huyện Bảo Thắng kết luận: 01 két sắt loại két chống lửa, nhãn hiệu Hòa Phát có giá trị là 6.415.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 12/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo Nguyễn Văn Ch về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điểm c Khoản 2 Điều 173; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết xong theo bản án số 48/2018/HSST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai, đến nay không ai đề nghị gì nên không xem xét giải quyết.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị hại, xác nhận nội dung vụ việc Công ty TNHH Supe lân Apromaco Lào Cai bị mất số tiền 100.487.500 đồng và hỏng két sắt Hòa Phát trị giá 6.415.000 đồng. Tuy nhiên bị cáo Q và bị cáo Đ đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho công ty, đến nay bị hại không yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Ch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Xét thấy điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đều hợp pháp, đảm bảo việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Ch đã thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của Công ty TNHH MTV Supe lân Apromaco Lào Cai, tổng số tiền là 100.487.500 đồng.
Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, bị cáo Vũ Đức Q giữ vai trò chủ mưu, khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện chủ động rủ Đ và Ch đi trộm cắp tài sản nên Q giữ vai trò Ch trong vụ án. Bị cáo Vũ Duy Đ là người đứng ngoài cảnh giới nên phải chịu trách nhiệm với vai trò giúp sức trong vụ án. Đối với bị cáo Vũ Đức Q và Vũ Duy Đ đã được xét xử theo bản án số 48/2018/HSST ngày 30/10/2018 của TAND huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giữ vai trò thực hành trong vụ án. Sau khi phạm tội Nguyễn Văn Ch bỏ trốn gây nhiều khó khăn cho cơ quan điều tra, ngày 11/11/2022 Nguyễn Văn Ch bị lập biên bản bắt người đang bị truy nã theo quy định. Lời khai nhận tội của bị cáo Ch tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị cáo Vũ Đức Q và Vũ Duy Đ. Vì vậy khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Văn Ch là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, lười lao động, vì muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo có 01 tiền án, tại bản án số 89/2015/HSST ngày 30/10/2015 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Văn Ch 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"; Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi "Trộm cắp tài sản", do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng là "tái phạm" theo Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, tại bản án số 49/2015/HSST ngày 30/6/2015 của TAND huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước xử phạt Nguyễn Văn Ch 07 tháng 16 ngày tù về tội "Trộm cắp tài sản", trả tự do tại phiên tòa. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo Ch phải xử được xử lý thật nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Trong vụ án này, hành vi phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn nên cần áp dụng quy định tại Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án:
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị hại xác nhận nội dung vụ việc như bị cáo trình bầy, các bị cáo Vũ Đức Q và Vũ Duy Đ đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Công ty TNHH Supe lân Apromaco Lào Cai. Vì vậy Công ty không yêu cầu gì đối với bị cáo Ch về trách nhiệm dân sự.Vũ Đức Q và Vũ Duy Đ đã được cơ quan điều tra thông báo về việc xử đang điều tra, xử lý đối với Nguyễn Văn Ch, tuy nhiên Q và Đ không có ý kiến đề nghị gì.
Về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án đã được giải quyết xong theo bản án số 48/2018/HSST ngày 30/10/2018, đến nay Công ty TNHH Supe lân Apromaco Lào Cai, Vũ Đức Q và Vũ Duy Đ không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự và vật chứng của vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn Ch.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ vào Điểm c Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ch 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 13/11/2022.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q hội buộc bị cáo Nguyễn Văn Ch phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện Bảo Thắng; - Công an huyện Bảo Thắng; - Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Thắng; - Cơ quan THAHS công an tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp; Bị cáo; - Bị hại; Thi hành án (3); - Lưu HS,TA,THS,VP. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hoàng Liên |